Bản quyền nội dung trong môi trường truyền thông số

22/04/2020, 23:29

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 giúp thế giới kết nối, phát triển mạnh mẽ hơn, vấn đề bản quyền nội dung số cũng đang được quan tâm nhiều hơn trên phạm vi toàn cầu.

 

Sau một loạt vụ việc vi phạm bản quyền quốc tế của các tác giả, nghệ sỹ Việt Nam gần đây, dẫn tới tổn hại danh dự, kiện tụng, đền bù tốn kém... vấn đề này càng trở nên nóng hơn bao giờ hết.

Cái gọi là bản quyền nội dung số

Từ điển Oxford định nghĩa “copyright”(1) (bản quyền) là quyền lợi hợp pháp và độc quyền của tác giả gốc trong một thời gian giới hạn (có thể là một hay nhiều năm) để in ấn, xuất bản, biểu diễn, làm phim hay ghi âm các tác phẩm nghệ thuật, văn học, âm nhạc.

Các nhà nghiên cứu tại trường Báo chí của Đại học UC Berkeley, California bổ sung thêm một mệnh đề vào phần sau của định nghĩa này, đó là “bản quyền” còn bao gồm quyền của tác giả gốc - cho phép chuyển nhượng các quyền nêu trên cho người khác, miễn phí hoặc có thu phí (dựa trên thỏa thuận giữa tác giả gốc và người được chuyển nhượng).

Cũng theo Bà Vicki Hammarstedt Giám đốc Viện nghiên cứu Báo chí truyền thông của Đại học UC Berkeley (Mỹ) đi kèm với khái niệm bản quyền còn có các khái niệm quan trọng liên quan như: “licensing” (chuyển nhượng bản quyền): là việc cho phép sử dụng một tác phẩm đã đăng ký bản quyền hoặc cho phép thực hiện các hoạt động liên quan đến bản quyền nội dung nào đó.

Ví dụ, khi nhạc sỹ cho phép các ca sỹ hát bài hát của mình đó là hành động nhượng quyền sử dụng (licensing), không đồng nghĩa với việc người ca sỹ được sở hữu bản quyền (copyright) ca khúc đó(2).

Ngoài ra, trong lĩnh vực bản quyền hiện nay, chúng ta cần làm quen với khái niệm “Attribution” (“ghi nhận bản quyền/ghi danh tác giả”). Theo từ điển lâu đời và uy tín của nước Mỹ - Merriam Webster thì “Attribution”(2) là hành động ghi nhận công lao của một tác giả văn học hoặc nghệ thuật đối với tác phẩm của họ.

Hiểu theo cách hiện đại và thực tiễn, đây là việc cung cấp thông tin về tác giả khi chúng ta sử dụng tác phẩm hoặc một phần tác phẩm của họ. Kể cả đối với nhiều tác phẩm được chia sẻ hoàn toàn miễn phí trên mạng Internet (mà không đi kèm bất cứ một điều khoản nào liên quan đến bản quyền), chúng ta vẫn cần phải trích dẫn, ghi danh tác giả gốc khi sử dụng hoặc xuất bản lại (attribution) tác phẩm hoặc một phần nội dung của họ.

 

Các loại bản quyền nội dung số

Công ước quốc tế Berne (hiện được quản lý bởi Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới - World Intellectual Property Organization) bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền. Tác phẩm xuất bản ở một quốc gia sẽ được bảo vệ quyền tác giả tại các quốc gia khác cùng tham gia công ước, trong suốt trọn đời của tác giả, cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó(4) . Công ước này có hiệu lực thi hành tại Việt Nam kể từ ngày 26/10/2004. Từ đó đến nay, việc thực thi quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nước ngoài tại Việt Nam đã có nhiều tiến bộ và được thế giới ghi nhận.

Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên số, khi các tác phẩm, thậm chí một hay nhiều phần của tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc, hình ảnh... được chia sẻ một cách rộng rãi trên mạng Internet, phần lớn người dùng Internet tại Việt Nam lại chưa nắm rõ được các loại hình chia sẻ bản quyền, nội dung nào có thể được sử dụng miễn phí, nội dung nào phải xin phép tác giả hoặc trả tiền để sử dụng? Để giải quyết được vấn đề này cần nỗ lực từ cả hai phía: tác giả và người khai thác, sử dụng nội dung số. Bắt đầu từ việc phân loại và định nghĩa các loại hình bản quyền cơ bản nhất.

Khác với các nội dung in ấn truyền thống, việc “dán nhãn bản quyền” cho nội dung số được các tổ chức phi lợi nhuận, các nền tảng công nghệ như Google, Facebook, Flickr... cũng như các cộng đồng, nhóm tác giả thực hiện. Các nhãn phân loại bản quyền số này được tạo ra theo nguyên tắc 3 lớp:

Lớp thứ nhất “Legal Code”: thông tin mã hóa đầy đủ của hệ thống pháp luật bảo vệ nội dung số đó. Lớp thông tin này được đính kèm và chủ yếu được sử dụng bởi các luật sư trong trường hợp cần thiết.

Lớp thứ hai “Human Readable”: lớp ký hiệu mà người dùng ai cũng có thể nhìn thấy và hiểu được: nội dung này có thể được sử dụng ra sao, chia sẻ bản quyền như thế nào, các quy định đi kèm...

Lớp thứ ba “Machine Readable”: lớp nhãn chỉ có các thuật toán, các công cụ tìm kiếm và hệ thống máy tính có thể hiểu được. Lớp nhãn vô hình này giúp các công cụ tìm kiếm, chia sẻ nội dung hay các nền tảng mạng xã hội dễ dàng nhận biết và phân loại bản quyền nội dung số, phát hiện ra những vi phạm bản quyền (nếu có). Đây là lớp nhãn bản quyền đặc thù của công nghệ số, được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các thuật toán hiện đại trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả phân loại các “nhãn bản quyền” dựa trên lớp dữ liệu thứ hai “human readable” là những thông tin mà chúng ta luôn nhìn thấy trên các tác phẩm, nhưng có thể chưa hiểu ý nghĩa của chúng. Nhãn bản quyền “Public domain”: loại nội dung được chia sẻ hoàn toàn miễn phí, người dùng có thể sử dụng nội dung này để tạo ra các tác phẩm của mình, rồi xuất bản, phân phối trên mọi nền tảng, cho mọi mục đích kể cả thương mại mà không phải trả bất cứ chi phí bản quyền nào. Nội dung này còn có thể được gọi là “nội dung không có bản quyền”.

Nhãn bản quyền “Royalty Free”: với những nội dung được dán nhãn này, người dùng có thể trả phí một lần để đổi lấy quyền sử dụng. Việc trả phí này được trả một lần duy nhất tại thời điểm mua và không lặp lại theo định kỳ. Mọi thoả thuận diễn ra giữa tác giả và người được chuyển nhượng quyền sử dụng nội dung này được miêu tả trong hợp đồng.

Các nhãn bản quyền CC - Creative Commons: nền tảng nhãn bản quyền Creative Commons hiện được sử dụng và bảo vệ bởi 289 cộng đồng tác giả tại 60 quốc gia trên thế giới 5 . Nền tảng này vừa bao gồm các ký hiệu phân loại bản quyền, vừa là công cụ để các tác giả xác định bản quyền liên quan đến nội dung của mình. Đến nay, đã có hơn 1 tỷ nội dung trên mạng Internet, bao gồm : 391 triệu hình ảnh, đồ hoạ tĩnh; 46,9 triệu bài báo, tài liệu; 1,4 triệu bài nghiên cứu khoa học; 18,4 triệu video; 4 triệu file âm thanh và hàng trăm ngàn dữ liệu đa phương tiện khác được dán nhãn bản quyền / hướng dẫn quyền sử dụng CC (Creative Commons).

Các dịch vụ trực tuyến hiện đã và đang sử dụng dữ liệu bản quyền CC gồm: flickr(hình ảnh tĩnh); Vimeo (hình ảnh động, video); Youtube, Google... Điều này đồng nghĩa với việc khi tìm kiếm các loại hình dữ liệu trên các công cụ này, người dùng có thể phân loại theo nhãn bản quyền và quyết định việc sử dụng nó phù hợp với từng nội dung.

Nhãn CC - BY /Attribution CC BY

Nhãn bản quyền này cho phép người dùng toàn quyền phân phối, sử dụng, remix, điều chỉnh và dùng nội dung này để sáng tạo ra các tác phẩm khác của mình, kể cả cho mục đích thương mại. Điều kiện sử dụng là người dùng phải cung cấp thông tin về tác giả của nội dung gốc, trong tác phẩm của mình. Đây là nhãn bản quyền đơn giản và thường thấy nhất.

Nhãn CC BY - SA /Attribution - ShareAlike

Cho phép người dùng điều chỉnh và sử dụng toàn bộ hay một phần của nội dung để tạo ra các sản phẩm khác, kể cả cho mục đích thương mại. Sau khi sử dụng và tạo ra tác phẩm mới, người dùng phải đề tên tác giả gốc và phải dán nhãn bản quyền tương tự cho tác phẩm mới. Điều này đồng nghĩa với việc tác phẩm mới sẽ có nhãn chia sẻ miễn phí CC - BY - SA giống với bản quyền của nội dung gốc.

Nhãn CC BY - ND /Attribution - NoDerivs

Người dùng được phép phân phối lại nội dung cho cả mục đích thương mại lẫn phi lợi nhuận, với điều kiện không được phép tạo ra bất cứ thay đổi nào đối với tác phẩm gốc và phải sử dụng nguyên trạng nội dung này, đồng thời đề tên tác giả.

Nhãn CC BY - NC /Attribution - NonCommercial

Cho phép người dùng điều chỉnh và thay đổi nội dung gốc để tạo ra tác phẩm mới với mục đích phi thương mại kèm theo điều kiện cung cấp tên tác giả của phần nội dung gốc. Tác phẩm mới có thể được dán nhãn bản quyền khác so với phần nội dung gốc, đồng nghĩa với việc người dùng có thể cho phép hoặc không cho phép sử dụng tác phẩm mới của mình.

Nhãn CC BY - NC-SA /Attribution - NonCommercialShareAlike

Cho phép người dùng điều chỉnh nội dung gốc để tạo ra tác phẩm mới với mục đích phi thương mại, kèm theo điều kiện phải cung cấp tên tác giả của phần nội dung gốc và dán nhãn bản quyền mới tương tự như phần nội dung gốc mà họ sử dụng.

Nhãn CC BY - NC-ND /Attribution - NonCommercial NoDerivs

Nhãn này kèm theo các điều kiện khó khăn nhất trong số tất cả loại hình bản quyền nội dung số; nó chỉ cho phép người dùng tải về để chia sẻ toàn bộ nội dung đó một cách có giới hạn, không nhằm mục đích thương mại và phải cung cấp thông tin về tác giả, đồng thời không được thay đổi nội dung gốc này dưới bất cứ hình thức nào.

Vĩ thanh

Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên số chưa bao giờ dễ dàng đến vậy - nhờ vào sự phát triển của khoa học công nghệ, mạng Internet toàn cầu. Tận dụng nguồn nguyên liệu thô sẵn có như: âm thanh, hình ảnh, nhạc hoạ... để sáng tạo nên một tác phẩm hoàn thiện, đủ chất lượng xuất bản, phát sóng... là công việc nên làm, vì nó tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí.

Câu hỏi là làm thế nào để khai thác một cách có hiệu quả và an toàn những nguồn nguyên liệu có gắn nhãn “bản quyền số” cũng như bảo vệ tác phẩm của mình sau khi ra đời. Ứng dụng thông tin về bản quyền, ký hiệu - nhãn bản quyền nội dung số có thể trả lời được câu hỏi này./.

Đồng Anh

Tài liệu tham khảo:
1. Từ điển Oxford, “copyright” - https://en.oxforddictionaries.com/definition/copyright.
2. Phỏng vấn Bà Vicki Hammarstedt, Giám đốc Viện Nghiên cứu Báo chí tại Đại học UC Berkeley, Mỹ.
3. Từ điển Merriam Webster, “attribution”, https://www.merriam-webster.com/dictionary/ attribution
4. Công ước Quốc tế Berne, World Intellectual Property Organization, 2018.
5. Tổ chức Creative Commons, Global Affiliate network, 2018.