Truyền hình trong kỷ nguyên số: Từ người bán báo dạo đến bác sỹ tâm lý

14/11/2018, 08:28

Truyền hình trong kỷ nguyên số: Từ người bán báo dạo đến bác sỹ tâm lý - Truyền thông đại chúng và truyền hình đã có những thay đổi đáng kể do chịu tác động từ sự phát triển nhanh chóng trên nền tảng Internet. Các thiết bị thông minh tích hợp nhiều tính năng đã tác động lớn đến hành vi thụ hưởng thông tin của công chúng và làm thay đổi cả tư duy phân phối thông tin của đơn vị cung cấp.

Trong bối cảnh xu thế hội tụ đang liên kết các ngành công nghiệp truyền thống riêng biệt thông qua mạng kỹ thuật số, bài báo tiếp cận truyền hình từ góc độ là một phương tiện truyền thông đại chúng với chức năng cung cấp thông tin, phát triển văn hóa, giải trí. Ảnh: TL

Vị thống soái truyền thông thế kỷ XX

Với hình ảnh chân thực và âm thanh sống động, truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế kỷ XX. Trên thế giới, hình ảnh gia đình gồm cha mẹ, con cái cùng nhau tụ tập quanh chiếc tivi để cùng xem truyền hình trở nên khá quen thuộc, được tái hiện trong nhiều ấn phẩm quảng bá về truyền hình.

Giai đoạn từ những năm 1950 - 1990, nhiều thị trường trên thế giới đã chứng kiến sự ảnh hưởng tới xã hội của các nội dung bom tấn trên truyền hình như I love Lucy (1952), The Beverly Hillbillies (1964), Who shot J.R? (1980)... ở châu Mỹ đến Nô tỳ Isaura (1977), Return to Eden (1983), Little House on the Prairie (1970), Tây Du Ký (1986), Hồng Lâu Mộng (1987), Ôshin (1994)... tại châu Á và Việt Nam.

Trong thời điểm mà các nội dung từng làm khán giả “phát sốt” này lên sóng, nhiều cái tên diễn viên trên phim xuất hiện thường trực trong những cuộc bàn tán phim ảnh của khán giả, các con đường vắng bóng người qua lại, nhiều cửa tiệm vắng khách bởi người xem đang bị màn ảnh nhỏ giữ chân. Những nội dung này đã liên tục chiếm sóng tại các khung giờ vàng (prime time) với số lượng người xem cao ngất ngưởng.

Truyền hình cuối thế kỷ XX đã giữ vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí, nâng cao văn hóa, trải nghiệm thế giới của đại chúng và được xem là vị thống soái của các phương tiện truyền thông.

Các công nghệ mới trong truyền hình đang dần thay thế công nghệ analog. Ảnh: TL

Làn gió mới trong thế kỷ XXI

Những năm đầu của thế kỷ XXI, khoa học kĩ thuật thế giới có nhiều bước tiến quan trọng, đặc biệt những phát minh mới về công nghệ truyền dẫn, các thiết bị phát và thu sóng truyền hình đã tạo ra một môi trường lý tưởng cho truyền hình tiếp tục phát triển.

Ở lĩnh vực nội dung cho truyền hình, các nhà sản xuất đã kịp thời nắm bắt cơ hội và mở rộng sáng tạo thêm nhiều chương trình mới nhằm đáp ứng các đặc thù khác biệt (được chi phối bởi nhiều yếu tố như nhu cầu sở thích, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa...) của từng nhóm khán giả. Số lượng các kênh truyền hình dành cho nhóm đối tượng khán giả chuyên biệt đã thực sự bùng nổ.

World Wide Web (WWW) ra đời, dần trở nên phổ biến khắp thế giới kể từ những năm cuối của thế kỷ XX và nhiều kênh truyền thông điện tử tức thời, sống động xuất hiện - đã đưa việc trải nghiệm và tiếp nhận thông tin của loài người lên một tầm cao mới.

Và khi truyền hình tiếp tục dịch chuyển lên môi trường Internet, công chúng đã chứng kiến một bữa đại tiệc thông tin vô cùng phong phú, không chỉ phục vụ theo đặc thù của từng nhóm khán giả mà còn đáp ứng họ theo thời điểm phù hợp với nhiều định dạng tương thích cho các thiết bị tiếp nhận đầu cuối khác nhau. Các thiết bị thông minh (điện thoại di động, laptop, tablet...) giúp công chúng sở hữu những màn hình tivi nhỏ gọn, linh hoạt - khác biệt với chiếc tivi chỉ tồn tại trong phòng khách như trong thời gian trước.

Công chúng bắt đầu di chuyển ra nhiều nơi và chiếc tivi nhỏ gọn (trong túi áo, túi xách) cũng đồng hành cùng họ. Chiếc sofa không phải là nơi duy nhất để ngả lưng và xem một chương trình mới. Việc trải nghiệm nội dung không còn là một hoạt động độc lập, tách biệt con người ra khỏi cuộc sống thường ngày, bởi giờ đây khán giả vừa trên đường đến công sở vẫn có thể xem tin tức, vừa chơi thể thao vẫn có thể lướt qua một chương trình bóng đá, vừa đi mua sắm vẫn có thể tìm kiếm những lời khuyên hữu ích từ một chương trình tư vấn tiêu dùng.

Ngày nay, công chúng đã có sự phân hóa khi xem truyền hình. Ảnh: TL

Sự phân hóa công chúng (Audience Fragmentation) dựa trên đặc thù của từng nhóm đối tượng khán giả. Thậm chí công chúng còn bị phân hóa cả về không gian địa lý khi việc trải nghiệm truyền hình theo quy mô gia đình (giới hạn trong phạm vi phòng khách trước đó) đã biến thành trải nghiệm cá nhân và có tính di động cao (công chúng phân tán ở mọi nơi và có thể trải nghiệm nội dung từ bất cứ nơi nào mà họ muốn).

Do có thể sở hữu nội dung theo nhiều cách, công chúng đã thiết lập một chương trình nghị sự cho riêng mình. Nếu bỏ lỡ một tập phim truyền hình vào tối hôm trước, họ sẽ mở máy tính bàn hoặc chiếc điện thoại di động để dịch chuyển thời gian và theo dõi câu chuyện ly kỳ với nhiều mối quan hệ tay ba, tay tư trong bộ phim Hàn Quốc vào thời gian nghỉ trưa tại công sở. Tập phim đó cũng có thể xem lại ở mục theo yêu cầu (VOD) trên website của đài truyền hình hoặc được tìm kiếm từ một đường link khác trong khung cửa sổ https://.

Nếu một ngày bộ phim làm họ chán chường, người bạn đồng nghiệp gợi ý một gameshow có phần đố vui trúng thưởng với những câu hỏi hóc búa nhưng hấp dẫn, thách thức người chơi, họ đột ngột chuyển sang gameshow và tương tác với cộng đồng bè bạn trên các diễn đàn, mạng xã hội để cùng nhau thử sức. Bộ phim dài tập trước đó dần bị họ quên lãng.

Trên nền tảng Internet, truyền hình chính thức cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác trong một cuộc đua mới - nơi mà các chiến binh tham gia ngày càng đông đảo, thông minh hơn, nhạy bén hơn trong trận chiến giành giật khán giả. Môi trường Internet đã ảnh hưởng tới sự trung thành của khán giả - khi mà phương thức phát sóng tuyến tính (linear TV) dường như đã không còn phù hợp. Công chúng không còn cần đợi chờ các chương trình sẽ lên sóng như một sự thỏa ước từ trước, bởi Internet đã cho họ rất nhiều cơ hội để tùy chỉnh.

Truyền hình trong kỷ nguyên số: Từ người bán báo dạo...

Người bán báo dạo với một cam kết đáng tin cậy

Lịch phát sóng được lập trình theo từng dải giờ, là cam kết giữa nhà sản xuất với người xem, giúp nhà sản xuất kiểm soát lịch làm việc (sản xuất theo kế hoạch) và người xem kiểm soát lịch sinh hoạt (danh sách các công việc hàng ngày). Lịch trình này được thông báo công khai trước khi nội dung được phân phối, có công năng như một công cụ quảng bá về chương trình cho người dùng.

Trong tình huống này, truyền hình giống như một “người bán báo” đang quảng cáo về những gì mình sẽ bán. Những nội dung được đem đến cho người thụ hưởng nó, xét về bản chất, cũng giống như một món hàng trong mối quan hệ với người sử dụng hàng (cho dù nội dung là một món hàng hóa đặc biệt - mang các đặc điểm phi vật chất, có giá trị tinh thần và trong nhiều trường hợp sẽ cung cấp miễn phí cho người sử dụng).

Nếu người sử dụng (người xem) có nhu cầu, họ sẽ chờ đợi lịch trình phát sóng để thụ hưởng loại hàng hóa mà họ mong muốn. Nhưng trong trường hợp ngược lại, người sử dụng (người xem) sẽ bỏ qua lịch trình đó. Mặc dù truyền hình có những chức năng đặc thù, nhưng nếu công chúng không đón nhận các chương trình, việc thực hiện các chức năng này có bảo đảm không? Câu hỏi này loại trừ với trường hợp đối tượng tiếp nhận là các nhóm công chúng trung thành, chủ động trông đợi các nội dung đã được lập trình sẵn.

Báo cáo tổng quan về truyền thông toàn cầu của các hãng nghiên cứu thị trường cho thấy, khán giả truyền hình đang có những thay đổi lớn trong những năm gần đây. Công chúng truyền hình ở nhiều quốc gia đang có xu hướng già hóa. Các khán giả lớn tuổi (từ 55 tuổi trở lên) với đặc thù tuổi tác, thói quen sinh hoạt, hệ quan điểm giá trị được định hình trong thời gian lâu dài - vẫn đang là nhóm công chúng trung thành của truyền hình.

Ở các phân khúc có độ tuổi thấp hơn, truyền hình đang cạnh tranh vô cùng gay gắt với các phương tiện truyền thông khác, đặc biệt là các phương tiện truyền thông xã hội. Bằng nhiều cách thức đo lường truyền thống (set meter, people meter), số liệu về lượng người xem truyền hình được các hãng nghiên cứu thị trường công bố hàng năm, nhưng tính chính xác, tin cậy của các số liệu này vẫn đang làm dấy lên nhiều tranh cãi.

... đến bác sỹ tâm lý

Bác sỹ tâm lý trong kỷ nguyên số

Khung phát sóng cố định từ vị trí là một ưu thế, giờ lại bộc lộ những hạn chế trong đời sống hiện đại. Công chúng ngày nay không dành thời gian để ngồi trên sofa và xem truyền hình trong phòng khách, mà họ tìm kiếm thông tin quan tâm thông qua các báo điện tử, diễn đàn và từ sự chia sẻ trên mạng xã hội. Thậm chí, công chúng còn không cần thực hiện hành vi tìm kiếm (mang tính chủ động), bởi hàng loạt các thuật toán được thiết lập sẵn có trên nền tảng Internet có thể thấu hiểu đến mức biết họ muốn gì, rồi tự động đưa nội dung đến cho họ.

Truyền hình trong kỷ nguyên số thực sự đã trở thành một bác sĩ tâm lý của công chúng. Khi công chúng được bao vây bởi hàng loạt lời mời gọi hấp dẫn từ nhiều hướng khác nhau, người chiến thắng trong cuộc chạy đua giành công chúng sẽ là những bác sĩ thấu hiểu và am tường về họ.

Bữa ăn phục vụ cho một người đang bội thực về thực phẩm, khi đã có quá nhiều thức ăn (nội dung) trên bàn tiệc (môi trường Internet), cần đáp ứng mức tiêu chuẩn khác so với bữa ăn cho một người đã nhịn đói 3 ngày, khi các nội dung còn nghèo nàn. Truyền hình trong kỷ nguyên số chắc chắn cần phải là một vị bác sĩ về tâm lý thấu hiểu công chúng và biết lựa chọn những bữa ăn tinh thần phù hợp cho từng đối tượng./.

Vũ Điệp

Bình luận