Tìm tòi và thể nghiệm của Nguyễn Thế Kỷ qua tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai”

06/01/2021, 09:14

Tìm tòi và thể nghiệm của Nguyễn Thế Kỷ qua tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai” - Ở nơi núi cao Mèo Vạc, Hà Giang, không ai còn lạ lẫm với Chợ tình Khau Vai! Nơi ấy, người dân thường truyền nhau mối tình giữa cô Út và chàng Ba.

Cô Út là người tộc Giáy, sinh ra trong gia đình tộc trưởng, là một người con gái xinh đẹp, nết na, dịu hiền, với đôi mắt trong như dòng suối, đôi môi hồng như nụ đào mới nở, làn da trắng như hoa lê, hoa mận. Còn chàng Ba là dân tộc Nùng, gia cảnh khó khăn, nhưng lại là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, hát hay cùng với tiếng sáo mê hoặc hồn người. Hai người yêu nhau thắm thiết. Chuyện tình của họ đẹp như bông hoa đang nở, như những đôi chim lửa quấn quýt bên nhau.

Nhưng rồi một ngày, cha mẹ, họ hàng hai bên biết chuyện, gia đình cô Út  không đồng ý vì chàng Ba nhà nghèo lại khác dân tộc, không cùng con ma, không cùng phong tục tập quán, con trai người Nùng không thể lấy con gái người Giáy làm vợ. Chuyện tình đang đẹp ấy, bỗng tan vỡ! Tuy hai người đã trốn lên hang núi Khau Vai sinh sống, nhưng họ không thể đến được với nhau khi gia đình, họ tộc hai nhà mang gậy, sung kíp, cung nỏ sang đâm chém nhau, máu chảy, lệ rơi. Thương cha mẹ, thương bản làng, hai người đành chia tay trong đau xót, thề huyền kiếp sau sẽ thành vợ thành chồng và hẹn hàng năm vào ngày chia tay này, trở lại núi Khau Vai để gặp nhau. Ngày họ chia tay là 27/3 âm lịch, nên từ đó người dân địa phương lấy đấy làm ngày họp chợ thường niên.

Chuyện tình đẹp, xúc động, rực cháy và sâu lắng đó đã giằng xé tâm hồn, làm biết bao con tim bồi hồi, thổn thức, trong đó có nhà báo, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ. Thế là năm 1997, ông đã đến cao nguyên đá Đồng Văn và chợ tình Khau Vai tìm hiểu. Từ một truyền thuyết lảng bảng, mơ hồ, mỏng manh sương khói vùng núi cao Mèo Vạc đã hàng trăm năm mà vấn vương, tương tư tác giả. Thấm thía, cảm động không dằn được lòng mình, ông đã sáng tác thơ, kịch cùng đề tài, chủ đề và nay thử nghiệm bằng tiểu thuyết! Vì sao vậy?

Trong thơ, con người – nhân vật trữ tình “sống” bằng tâm trạng, hiện lên trong tác phẩm chủ yếu là những khoảnh khắc cảm xúc. Trong kịch, con người – nhân vật hành động, xuất hiện ở thời điểm “sóng gió” nhất của số phận và bị “cuốn” rất nhanh vào xung đột chính của tác phẩm. Tiểu thuyết là thể loại có sức bao chứa dung lượng hiện thực rộng lớn, có khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn từ nhiều chiều khác nhau. Khác với không gian sân khấu chật hẹp của kịch, nhân vật của kịch, nhân vật tiểu thuyết được xây dựng theo những cách riêng và có những đặc điểm riêng nhằm đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu nhận thức theo chiều rộng, chiều sâu của thể loại. Tiểu thuyết được đặt trong cấu trúc nhiều nhân vật, nhiều mối quan hệ phức tạp.

Không giống sân khấu và điện ảnh kể chuyện bằng hình ảnh trực quan, tiểu thuyết là nghệ thuật của ngôn từ, nhà văn kể chuyện bằng ngôn từ, vì thế những sự kiện, cảnh vật, con người (nhân vật) trong truyện, người đọc chỉ có thể tưởng tượng ra nhờ sự khêu gợi của lời kể. Với tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai”, Nguyễn Thế Kỷ có lối kể chuyện và miêu tả không những tinh tế, mà còn có khả năng làm thức dậy mọi giác quan của người đọc. Qua thiên truyện này, tác giả đã lắng nghe được âm vang sâu lắng của tâm hồn, ghi nhận được những cảm giác tinh tế từ bên trong, lối kể, miêu tả thiên truyện đầy thanh sắc và tất cả đều được thể hiện qua màu sắc của cái tôi trữ tình hồn nhiên, trong sáng!

Nằm trong sự lựa chọn của tác giả, nhân vật chính hay phụ, giàu sang hay nghèo hèn đều chứa đầy bất ổn, và có thể nói Nguyễn Thế Kỷ thực sự thành công với những nhân vật ấy. Những trang viết của ông trong “Chuyện tình Khau Vai” vận hành bằng cả một quá trình, đó là sự vận động của tâm hồn, tính cách, là những diễn biến tâm lý hết sức phức tạp nhằm đạt được chiều dài của một cuộc đời nhân vật. Ví như nhân vật Tộc trưởng họ Vương giàu có, đầy quyền lực cũng không tránh khỏi bi kịch tình yêu, khi ông yêu bà Liếng: “Mối tình dữ dội như sấm sét, tưởng như có thể đánh sập cả núi, vùi lấp cả vực sâu nếu như cần phải làm để được ở với nhau, thế mà cuối cùng cũng phải chịu thua một dòng họ, một tộc người, một luật tục, một nếp nhà.” (tr.118) Để rồi ôm hận, khổ đau cả một đời! Cách mô tả của tác giả làm tính cách nhân vật không bị gò ép vào khuôn khổ chật hẹp, nó luôn giữ nhịp độ bình thường như chính bản thân nhịp điệu cuộc sống hàng ngày. Nhờ đó nó hơn hẳn các thể loại khác, nhân vật Tộc trưởng sống một quãng đời tương đối dài và được tác giả mô tả hết sức cụ thể, tỉ mỉ đến từng chi tiết trong đoạn đường đời, những bước đi của số phận. Ai có thể tưởng tượng được con người như sắt đá ấy, “không nói nhiều, nhưng nói một câu như đinh đóng thẳng vào cột, không cãi, không thay đổi” (tr.54) mà từ thẳm sâu lại có lòng bao dung lớn. Nó chỉ sáng lên khi bà Liếng (người tình cũ) mất! Tộc trưởng đã đến bên mộ bà Liếng, nằm tâm sự với người tình: “Liếng à! Bà nhất định không đợi tôi cùng chết, đúng không? Bà nhất định để tôi ở lại, sống một mình, gặm cái cục đau khổ suốt một đời, đúng không? Bà thì vui rồi. Lúc sống có người thương, lúc chết cũng có người thương. Giờ bà bảo tôi nên làm thế nào? Một chút hy vọng thôi, bà cũng mang đi mất rồi.” (tr.119) Tộc trưởng sang mộ chồng bà Liếng rót rượu mời: “Uống cho vui, ông ạ. Từ giờ tôi không còn là mối lo của ông nữa. Mà thực tế tôi chưa bao giờ là mối lo của ông cả. Khi ông lấy bà ấy, khi hai người có con, khi hai người có nhà ở riêng… chuyện gì tôi cũng biết, chỉ là tôi đứng từ xa nhìn vào thôi. Uống đi nào!” (tr.120) Cảm động đến rơi lệ! Tác giả đã theo dõi sự phát triển tính cách của nhân vật rất công phu, mô tả tỉ mỉ những đoạn đường đời, những bước đi thăng trầm của số phận nhân vật.

“Chuyện tình Khau Vai” đã đưa người đọc đến một quan niệm toàn vẹn, sâu sắc về con người, về những suy nghĩ, trăn trở trước cuộc sống. Con người (nhân vật) vừa là xuất phát điểm, là đối tượng khám phá chủ yếu. Các nhân vật trong tác phẩm được nhìn ở nhiều vị thế, ở mối quan hệ đa chiều: với xã hội, với họ tộc, với tập tục, với gia đình, với chính mình… bao ngổn ngang, hỗn độn đã đẩy cuộc sống, số phận của con người đến trước những bi kịch, bi tình không ai muốn và không ai giống ai. Với khả năng kể chuyện, miêu tả hiện thực đời sống cả bề rộng không gian, lẫn bề sâu tính cách nhân vật, “Chuyện tình Khâu vai” đã làm cho bóng hình cuộc đời, con người hiện hữu như thực giữa đời.

Tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai” của Nguyễn Thế Kỷ phản ánh tận cùng số phận con người qua những biến cố và sự trả giá của số phận. Nhân vật trong truyện với thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp, với bao bi kịch: giữa khát vọng và hiện trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa thanh lọc và tha hóa, giữa nhân bản và phi nhân bản… Tìm hiểu “Chuyện tình Khau Vai” không thể bỏ qua bi tình, bi kịch của Út và Ba. Có thể đó là chìa khóa mở ra cánh cửa đi tìm những khía cạnh về nội dung tư tưởng của tác phẩm. Đồng thời cũng là phương pháp giúp người đọc có được cái nhìn sâu sắc, nhân văn hơn so với số phận con người!

Út là con Tộc trưởng họ Vương người Giáy, quyền lực và giàu có nhất vùng. Nhà Tộc trưởng “nhiều tiền, nhiều của nên dù ít người nó vẫn là ngôi nhà to nhất bản” (tr.24); “ngôi nhà này có từ thời ông nội của Tộc trưởng. Nghe nói làm gần ba năm mới xong” (tr.24); “đàn trâu có hàng trăm con” (tr.27); ruộng, vườn, nương, rãy thì bạt ngàn không sao kể hết. Út đẹp người, đẹp nết “như một bông hoa lê vừa nở” (tr.53). “Út càng lớn càng xinh đẹp, vừa giống bố vừa giống mẹ, vừa ngoan hiền, vừa bướng bỉnh. Điều gì đúng thì nghe, điều gì sai thì cãi. Nó vừa có sự mềm mại của mẹ, vừa có cái dữ dội, quyết liệt của bố.” (tr.59-60) Là con gái nhưng “Út chẳng sợ cái gì bao giờ. Bóng đêm, ma quỷ, côn trùng, rắn rết, hổ báo… dường như không một nỗi sợ hãi nào có thể chạm được đến Út. Kỳ lạ thế!” (tr.73) Nếu bình thường và có “số” hên thì con người ấy sẽ được hưởng hạnh phúc trọn đời (?!) Không! Út đã đem lòng yêu nồng nàn, quyết liệt chàng Ba: “Lòng dạ Út từ khi có Ba, lúc nào cũng bừng bừng như một con chim vừa biết bay nên luôn tìm lý do để bay mải miết vào bầu trời xanh biếc.” (tr.46) Mặc dù chàng Ba đẹp người, đẹp nết, khỏe mạnh, đảm đang, giỏi việc, hiếu thảo, “chỉ cần nghe tiếng ho của mẹ là khiến Ba đau thắt cả ruột gan”. Dưới mắt Tộc trưởng Ba có “gương mặt cương nghị, rắn rỏi, tự trọng. Một đứa thanh niên dám làm bất cứ cái gì nó muốn và đã định thì chắc chắn sẽ làm.” (tr.172) Yêu như vậy, đẹp như vậy, quyết liệt có lúc tưởng như bất chấp mà Út và Ba không đến được với nhau, vì sự ngăn cách của hủ tục!

Dù phản kháng nhưng Út cũng không thoát khỏi bi tình, bi kịch đối với bản thân. Nếu như có một thứ sai lạc trong con người Út, thì chắc hẳn nó được xuất phát từ bản chất phản kháng của cô - báo hiệu cho sự nổi loạn. Ngay từ khi biết bố có ý định gả Út cho Cố Sầu (một kẻ hầu hạ trong nhà), Út đã phản đối quyết liệt: “Bố không giữ được chân con đâu. Trừ khi bố chặt chân con đi.” (tr.132) Hành động Út quyết yêu Ba đánh dấu sự tuyên chiến với trật tự trong gia đình và vô hình chung là trật tự xã hội. Út đã đòi một quyền công bằng trong tình yêu và quyền được yêu! Đó là khát vọng tự do trong con người Út, ý thức ấy càng lớn lên và nổ tung khi Út hai lần trèo cửa sổ buổng mình để trốn, vượt hiểm nguy để đến với Ba – đến với tình yêu! Đó là sự bùng nổ của khát vọng, và cũng là khởi đầu cho bi tình, bi kịch lớn nhất của đời Út. Bi tình, bi kịch ư? Sao lại thế? Đó là sức sống của Út, là quyền mà Út được có trong cuộc sống cơ mà! Nếu không có khát vọng trong tình yêu cháy bỏng ấy thì cô Út không thể đồng cảm và chia sẻ với những tâm hồn bị bủa vây trong rào cản tập tục lạc hậu ràng buộc bao cuộc đời, bao thế hệ! Khát vọng cháy bỏng đó cộng với tình yêu cao cả giữa Út và Ba đã tạo ra sức cảm hóa lớn.

Vì thương cha, thương mẹ, thương dân bản mà Út và Ba phải hy sinh tình yêu nồng cháy của mình, họ trở về cứu dân bản, biết rằng từ đây mình sẽ sống không có tình yêu, sống trong khổ đau tuột cùng. Họ trở về, đêm không có nhà cháy, không có tiếng khóc đau thương của dân bản, không có sung nổ, gươm chém xé gió, không có máu chảy, lệ rơi… Họ về mà trong lòng ôm mối sầu đau! Nhưng bao sự ngăn cấm, bao hủ tục không thể huỷ diệt được tình yêu của họ! Lúc chia tay, họ đã thề nguyền hẹn gặp nhau hàng năm vào ngày 27/3 âm lịch ở chợ Khau Vai…

Đâu chỉ đau khổ vì không đến được với nhau, Út và Ba còn phải căng mình ra để đối phó với hàng loạt mâu thuẩn của bản thân, xã hội: Đó là vòng quay cả ngày lẫn đêm khi họ nghĩ về nhau; đó còn là trách nhiệm đối với dân bản, với mẹ cha. Giữa lúc tình yêu tan vỡ, giữa lúc nỗi đau quá lớn, họ rất cần sự vỗ về, chăm sóc của tình mẫu tử thì cả hai lại mất mẹ. Út còn hứng chịu bi kịch lớn hơn khi phải làm vợ Cố Sầu – một con mãnh thú: “Cố Sầu có tất cả thế mạnh của mọi con thú.” (tr.129) Út buộc phải làm “vật” hy sinh cho những dục vọng, sự oán thù của Cố Sầu. Đó là sự ô nhục đáng nguyền rủa, kinh tởm nhất: “Thình lình, Cố Sầu xiết thẳng vào Út. Út co người lại và hét lạc cả giọng. Đau thấu tận xương. Thủng ra tận lưng. Bẹp rúm như một con gián bị giẫm chết. Út không biết là nó lại kinh hoàng đến thế.” (tr.206) Bây giờ, trong hoàn cảnh của mình, Út hoàn toàn bị Cố Sầu chiếm lĩnh, dày vò cả thân xác lẫn tâm hồn! Cố Sầu đã làm “chuyện ấy” với Út một cách trắng trợn, không do dự, không thương tiếc: “Đêm thứ hai, thứ ba, thứ tư… Cố Sầu hoàn toàn không có ý dừng lại.” (tr. 217) Mọi quyền được sống, được yêu của Út đều bị tước đoạt!

Toàn bộ bi kịch, bi tình trong “Chuyện tình Khau Vai” xoay quanh cái trục chính về tình yêu, về số phận con người. Những tập tục khắc nghiệt đã cướp đi quyền được sống tự do, bình đẳng, quyền được yêu của con người nơi đây. Họ lâm vào tình trạng chênh vênh của kiếp sống! Nhưng câu chuyện tình đẹp của chàng Ba và nàng Út là liều thuốc tinh thần cho bao chàng trai, cô gái của nhiều dân tộc miền cao! Tiếng nói phản kháng bùng lên, hay sự đòi hỏi tự do trong tình yêu được chuyển tải đầy đủ trong thiên truyện của Nguyễn Thế Kỷ, góp phần lưu giữ niềm tin, sức sống trường tồn của “Chợ tình Khau Vai”. Thiết nghĩ, thể loại tiểu thuyết là thể nghiệm của Nguyễn Thế Kỷ, nhưng nó lại thành công ngoài mong đợi!!!

PGS, TS. Nguyễn Thị Trường Giang

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Bình luận