Tác nghiệp giữa Sài Gòn ngày 30 tháng 4 lịch sử

07/06/2017, 09:34

Tác nghiệp giữa Sài Gòn ngày 30 tháng 4 lịch sử - 42 năm đã trôi qua, giờ đây mỗi lần vào TP. Hồ Chí Minh trong tôi dường như mỗi đoạn đường, mỗi góc phố, trên những dòng sông vẫn thấp thoáng hình ảnh người chiến sĩ mũ tai bèo thuở nào. Thành phố nay trở nên hiện đại, ồn ào, sôi động vẫn không làm mất đi những gì thuộc về quá khứ của một thời oanh liệt, nơi hội tụ những người anh hùng.

Mỗi con người gắn với vận mệnh của dân tộc

Mùa xuân năm 1975, tôi là phóng viên quân sự thuộc Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Những tin tức, bài ảnh phát qua hãng Thông tấn xã Việt Nam. Ra Tết, tôi nhận được lệnh:

- Chuẩn bị đi mặt trận Quảng Trị - Thừa Thiên Huế.

Đã ba năm, kể từ năm 1972 là một sĩ quan được giao nhiệm vụ làm phóng viên quân sự, chuyện ra mặt trận không có gì là bất ngờ. Đây là mặt trận quen thuộc đối với tôi. Năm 1972, chúng tôi lăn lộn nơi đây hàng mấy tháng trời với những ngày, tháng chiến tranh ác liệt nhất.

Nhắc đến Quảng Trị tôi không thể nào quên kỷ niệm ở Thành cổ. Chính ngày 19/6, ngày kỷ niệm quân lực Việt Nam cộng hòa (quân đội Thiệu), những trận đánh dữ dội nhất đã xảy ra với mưu toan tái chiếm Thành cổ của quân ngụy. Súng phun lửa bắn trực tiếp vào từng ngách hào, từng hố cá nhân, nơi các chiến sĩ ta bám trụ. Đây là thời điểm nổi bật đức tính ngoan cường, quả cảm có một không hai của một thế hệ chiến sĩ anh hùng.

Đến nay tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt lớp chiến sĩ đó. Tôi đã viết bài Dũng sĩ Thành Quảng Trị đăng trên Báo Nhân dân và được Đài Tiếng nói Việt Nam đọc lại suốt gần tuần lễ. Các đồng nghiệp mới ra trường như Nguyễn Khánh Toàn, Đức Thiện, Phí Văn Chiến, Trần Đình Bá, Mạnh Tuấn, Trung Đạo, Hải Chinh, v.v.. đều lăn lộn và viết không ít tin tức, bài vở từ mặt trận gửi về Hà Nội.

Năm ấy, mặt trận Quảng Trị chứng kiến sự hy sinh to lớn của bao cán bộ, chiến sĩ, như một nhà thơ đã viết: “Nếu các anh trở về đông đủ/Sư đoàn ta đã thành mấy sư đoàn”. Có bao anh hùng, dũng sĩ như Vũ Trung Thướng, Nguyễn Như Hoạt, Mai Ngọc Thoáng.

Trên các chiến hào chúng tôi đã gặp những cán bộ chỉ huy cấp tiểu đoàn, trung đoàn còn trẻ măng, có người chưa đến tuổi 30 lớp chiến sĩ từ học sinh vừa tốt nghiệp lớp 7, lớp 10, trong số họ không ít người là sinh viên đại học. Họ hoạt bát và vui nhộn, ít nghĩ đến gia đình, cái “tôi”, cái riêng tư của mình. Họ sung sức và thông minh trong đánh giặc. Có người mới được luyện tập vài ba chục ngày đã ra trận. Trong môi trường như thế, viết về người chiến sĩ không đến nỗi phải trăn trở, cân nhắc nhiều. Bản thân cuộc đời mỗi người lính là một câu chuyện hấp dẫn với hậu phương. Lúc đó lợi ích của mỗi con người gắn với vận mệnh của dân tộc.

Nhớ lại kỷ niệm mặt trận Quảng Trị, chúng tôi háo hức lên đường. Mà ai cũng nghĩ lần này lên đường sẽ được đi xa hơn, vào sâu hơn, có khi là được vào tận thành phố. Chúng tôi được Bộ Biên tập Thông tấn xã Việt Nam trao đổi và tiễn đưa. Đã từ lâu ở bộ phận quân sự làm việc, thông tấn xã vẫn coi anh em phóng viên như người nhà, câu chuyện thân tình và cởi mở.

Những ngày đầu tháng 3 tin tức chiến thắng từ chiến trường Tây Nguyên và trận đánh giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột làm nức lòng hậu phương. Giữa tháng 3 chúng tôi rời Hà Nội lên đường. Tôi và Hoàng Thiểm được phân công cùng đi một mũi vào Quảng Trị. Chúng tôi vốn cùng một tổ học tập trong trường, hiểu nhau như anh em.

Vào quân đội, tôi được phong quân hàm thiếu úy, Hoàng Thiểm chuẩn úy. Anh Thiểm lớn tuổi hơn nên trong công việc chúng tôi đều thảo luận với nhau tỉ mỉ từng vấn đề nhỏ như đi đâu, theo đơn vị nào? Phối hợp với các anh bên Thông tấn xã gửi tài liệu về Hà Nội như thế nào để bảo đảm nhanh nhất, an toàn nhất.

Cạnh tranh báo chí bây giờ cũng vậy thôi. Làm sao để đưa thông tin đến bạn đọc nhanh nhất. Nhiều năm làm báo, là phóng viên quân sự có biết bao nhiêu trường hợp dạy cho tôi trưởng thành. Cũng có cái may là học ở trường báo chí nên chúng tôi sớm “giác ngộ” và tâm huyết điều này.

Rạng sáng ngày 26/3/1975, chúng tôi cùng một tốp phóng viên TTXVN tiến vào Huế. Tôi nhớ như in suốt đêm 25/3 vượt sông Mỹ Chánh chạy bộ vào Huế, sau những ngày hành quân gian khổ chúng tôi thở không ra hơi. May mà anh Lâm Hồng Long, nhà nhiếp ảnh lớn tuổi nhất đoàn còn ít sâm củ chia cho chúng tôi mỗi người một lát mỏng để ngậm nên còn sức để vào Huế. Những giờ phút đầu tiên Huế giải phóng, ghi lại qua những tấm ảnh chúng tôi chụp được trên đường phố trong tiếng đạn, pháo nổ, giờ đây còn lưu lại như những tấm ảnh lịch sử. Tôi vẫn tự hào khi nhìn thấy tấm ảnh các cô du kích và bộ đội giương cao lá cờ giải phóng trên chiếc xe tiến vào Ngọ Môn. Sau gần 4 - 5 giờ hoạt động, theo qui định, chúng tôi gặp nhau và cử người đưa tài liệu về Hà Nội. Xin cảm ơn anh em lái xe ở TTXVN vì đã chạy xe suốt hai ngày đêm không nghỉ kịp đưa tài liệu về Hà Nội, phát bài và ảnh kịp thời cho các báo.

Nhà báo Ngọc Đản đứng phía sau đội mũ tai bèo tại Bộ chỉ huy mặt trận B5 năm 1972. Ảnh tác giả cung cấp

Những giờ phút lịch sử

Sáng 29/3, chúng tôi đã có mặt ở Đà Nẵng. Tôi, anh Lâm Hồng Long, Trần Mai Hưởng và Hoàng Thiểm vượt đèo Hải Vân bằng xe Honda. Dọc đường thỉnh thoảng những loạt súng của tàn quân ngụy lại réo qua sườn núi. Chúng tôi vẫn bình tĩnh vì qua đài BBC, được biết từ ngày 23/3 thành phố Đà Nẵng đã trở nên hỗn loạn. Địch buộc phải bỏ kế hoạch co cụm ở Đà Nẵng và tranh nhau di tản. Buổi sáng 29/3, trời Đà Nẵng lất phất mưa, khi chúng tôi có mặt thì bộ binh và xe tăng Quân đoàn II cùng lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã có mặt ở thành phố, chiếm giữ sân bay Đà Nẵng.

Chiều 28/4, chúng tôi tìm được Sở chỉ huy cánh quân hướng Đông - Bắc. Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, lúc đó là Cục trưởng Văn hóa, đặc trách công tác chính trị chỉ dẫn cho chúng tôi tìm cách liên hệ với Quân đoàn 2.

Buổi chiều 29/4, Thượng tướng Lê Khả Phiêu (nguyên Tổng Bí thư), lúc đó là Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn II cho chiến sĩ liên lạc đưa chúng tôi đến mũi tiến công của Sư đoàn 304 đang phối hợp với Lữ đoàn xe tăng 203.

Rạng sáng ngày 30/4, sau khi đã vượt căn cứ Nước Trong, chúng tôi theo xe tăng của Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 bắt đầu theo đường 15, vượt cầu Xa lộ sông Đồng Nai đã kẹp các ổ đề kháng còn lại của quân ngụy ở Thủ Đức nhằm thẳng hướng nội thành mà tiến.

11 giờ 24 phút ngày 30/4, chúng tôi có mặt trước Dinh Độc lập. Trong những giây phút lịch sử đầu tiên đó, tôi đã ghi lại được những tấm hình lịch sử: Nội các ông Dương Văn Minh đầu hàng đang bước xuống bậc tam cấp theo sự quản lý của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304, Lữ đoàn 203. Hình ảnh Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Lữ đoàn 204 Phạm Xuân Thê uy nghi, cao lớn, nghiêm khắc mà rất khoan dung. Chân dung Đại đội trưởng Bùi Quang Thận, từ xe tăng 843 nhảy lên tầng thượng của Dinh Độc lập treo lá cờ Tổ quốc được đặc tả, nụ cười chiến thắng reo vui trên khuôn mặt còn lấm đen khói đạn, Tôi đã ghi được lại cả những nhân chứng sự kiện xe tăng 390 với sự có mặt của nữ nhà báo Pháp Phrăngxoa Đơ Muyn-đô trong những phút giây lịch sử đó.

Nữ biệt động Sài Gòn Cao Thị Nhíp (Trung Kiên) dẫn đường cho xe tăng Quân đoàn 3 tiến vào sân bay
Tân Sơn Nhất ngày 30/4/1975. Ảnh tác giả cung cấp

Nhờ anh lái xe cảnh sát Võ Cự Long của chính quyền ngụy mà chúng tôi nhanh chóng đến Bộ Tổng Tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay tại sân bay tôi chụp ảnh nữ biệt động Nguyễn Trung Kiên (tức cô Nhíp) dẫn đầu chiếc xe tăng đánh chiếm Tân Sơn Nhất. Buổi chiều, tôi quyết định dùng chiếc xe Zep 6 máy và động viên Võ Cự Long một sĩ quan ngụy, trưởng một công sa dẫn đường cho các yếu nhân của chính quyền Sài Gòn lúc đó hãy lập công cho cách mạng đưa tôi và anh Hoàng Thiểm về Đà Nẵng. Một mình Long lái xe suốt tối 30 đến rạng sáng 2/5 (trên đường chỉ nghỉ vài giờ) đưa chúng tôi về Đà Nẵng.

Ngay buổi trưa hôm đó, anh Thiểm theo máy bay đưa tài liệu ra Hà Nội sớm nhất. Báo Nhân dân và Quân đội nhân dân ngày 3 tháng 5 đã đăng những hình ảnh đầu tiên về giờ phút lịch sử ngày 30/4/1975./.

Ngọc Đản

Bình luận
Gia đình trái cây Pushmax Nước mắm nhĩ cá cơm Châu Sơn