Phương thức truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số

09/10/2020, 09:32

Phương thức truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số - Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên, dân tộc thiểu số vẫn là nhóm thiệt thòi và nghèo nhất. Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc đem lại kết quả bền vững cho các chương trình phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo, góp phần ổn định xã hội. Truyền thông làm thay đổi nhận thức của con người, dẫn đến sự tự nguyện thay đổi hành vi, một trong những yếu tố duy trì kết quả phát triển bền vững.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đến dự lễ khai giảng năm học mới cùng thầy trò Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú huyện Tu Mơ Rông (tỉnh Kon Tum). Ảnh: TL

Quan niệm về phương thức truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số

Theo Đại từ điển tiếng Việt, phương thức được hiểu là phương pháp và hình thức tiến hành một công việc hoạt động nào đó. Phương pháp là “cách thức tiến hành để có hiệu quả cao”. Phương pháp càng đúng thì kết quả càng cao, cùng một kết quả, nhưng có thể có nhiều phương pháp khác nhau. Chủ thể hành động có thể xây dựng và sử dụng phương pháp thích hợp. Còn hình thức được hiểu là “cái bên ngoài cái chứa đựng nội dung”, hình thức là biểu hiện ra bên ngoài của nội dung. (*)

Như vậy, phương thức là hình thức của phương pháp mà chủ thể thực hiện một hoạt động cụ thể theo mục tiêu đã được xác định.

Do đó, phương thức truyền thông được hiểu là phương pháp, hình thức tiến hành các hoạt động truyền thông nhằm đạt được những mục tiêu đã định trước. Trên cơ sở đó, phương thức truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số được hiểu là tổng hợp các phương pháp, biện pháp, hình thức truyền thông mà Nhà nước và các chủ thể khác tiến hành ở vùng dân tộc thiểu số nhằm làm thay đổi nhận thức người dân tộc thiểu số, để điều chỉnh hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội. Hiện nay, có hai hình thức truyền thông chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số là truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp.

Truyền thông trực tiếp cho người dân tộc thiểu số. Ảnh: TL

Phương thức truyền thông trực tiếp

Truyền thông trực tiếp là quá trình trao đổi thông tin một cách trực tiếp giữa người làm truyền thông với một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng cụ thể. Đối với vùng dân tộc thiểu số, truyền thông trực tiếp chính là quá trình trao đổi thông tin trực tiếp giữa người làm truyền thông với người dân tộc thiểu số thông qua giao tiếp thể hiện qua các cách thức như: Người truyền thông tiến hành thăm hộ gia đình các dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số; người truyền thông tiến hành tư vấn trực tiếp đối với các dân tộc thiểu số; tổ chức, điều hành hoạt động thảo luận nhóm về các thông điệp truyền thông giữa người truyền thông với đồng bào các dân tộc thiểu số; tổ chức các buổi hội họp ở thôn, bản, phum, sóc…; qua các buổi hội thảo, hội nghị (ví dụ hội nghị phổ biến kinh nghiệm cho bà con dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số về trồng cây cao su… ); qua các sự kiện nhất là các sự kiện văn hóa của các dân tộc thiểu số; qua các chuyến thâm nhập thực tế tại địa bàn các dân tộc thiểu số sinh sống; thông qua sản xuất và tổ chức biểu diễn tiểu phẩm sân khấu ở các vùng dân tộc thiểu số hay tổ chức sự kiện cụ thể như thông tin lưu động tại chợ phiên, bản làng…

Một số thuận lợi khi tiến hành phương thức truyền thông trực tiếp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ nhất, Chính phủ đã và đang triển khai nhiều Chính sách về phát triển thông tin, truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số: Quyết định số 1212/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2012–2015; Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 4/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày 08 tháng 8 năm 2017 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2021”.

Đời sống vật chất và tinh thần của người dân tộc thiểu số ngày càng được nâng cao. Ảnh: TL

Thứ hai, đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông bao gồm các báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên các cấp ngày càng được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng. Nhà nước thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp thông tin cho đội ngũ cán bộ truyền thông. Hơn thế nữa, nhiều cán bộ truyền thông đặc biệt là cán bộ truyền thông cơ sở, xuất phát từ cộng đồng có sự am hiểu văn hóa truyền thống, phong tục tập quán nên dễ dàng tiếp cận và truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, nền kinh tế - xã hội của đất nước ngày càng phát triển, nhiều địa phương nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao, nên cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho truyền thông trực tiếp chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước thông qua hình thức hội họp, tổ chức sự kiện… cũng có nhiều thuận lợi.

Thứ tư, đặc điểm khá nổi trội trong các cộng đồng thiểu số ở nước ta là tính gắn kết cộng đồng cao và vai trò dẫn dắt, then chốt của những người tiên phong, người có uy tín. Bởi vậy, trong công tác truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, việc phát huy được vai trò của người có uy tín trong cộng đồng thiểu số có thể là già làng, trưởng bản, trưởng thôn,… sẽ mang lại hiệu quả tốt trong việc thay đổi thái độ của người dân tộc thiểu số, giúp lan tỏa các thông điệp truyền thông.

Bên cạnh những thuận lợi, truyền thông trực tiếp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp phải những khó khăn nhất định như: Một bộ phận cán bộ làm công tác ở vùng dân tộc thiểu số còn thiếu và yếu cả về kiến thức, kỹ năng truyền đạt còn bất cập, thậm chí chưa thực sự am hiểu phong tục tập quán đồng bào và do bất đồng ngôn ngữ... nên không thu hút được sự quan tâm của đồng bào; kinh phí cho công tác truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, trong nhiều trường hợp không phát huy được hiệu quả của truyền thông; ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác truyền thông còn nghèo nàn; phần lớn các cộng đồng thiểu số Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ, trình độ dân trí thấp nên khó, thậm chí không thể áp dụng các biện pháp truyền thông tập trung như tổ chức các cuộc họp, các chương trình, sự kiện phổ biến đông người…

Giáo dục luôn là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Ảnh: TL

Phương thức truyền thông gián tiếp

Truyền thông gián tiếp là quá trình truyền đạt thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đối với vùng dân tộc thiểu số, truyền thông gián tiếp là quá trình truyền đạt thông tin đến đồng bào dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Các phương tiện truyền thông đại chúng là kênh để truyền đạt thông tin tới người dân tộc thiểu số. Ngoài ra, người làm truyền thông có thể sử dụng mạng xã hội để truyền thông tin tới cộng đồng.

Thông tin sẽ được truyền đạt tới người dân tộc thiểu số thông qua các cách thức, biện pháp cụ thể: Nếu truyền thông điệp bằng lời nói gián tiếp đến đồng bào dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số thì kênh truyền thông là: điện thoại (thông qua tin nhắn, gửi hình ảnh, âm thanh); qua đài phát thanh, truyền hình xã; đài vô tuyến; đĩa âm thanh, đĩa hình.

Nếu truyền thông điệp bằng văn bản tới đồng bào dân tộc thiểu số thì kênh truyền thông là: thông cáo báo chí; báo cáo; thư điện tử; bảng thông báo tại thôn, bản, phum, sóc…; máy fax; lịch hoặc tranh cổ động; bản tin; báo in; báo điện tử, tài liệu truyền thông như áp phích, tờ rơi, tờ gấp…

Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí nước ta với đa dạng các loại hình: báo in, báo ảnh, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử và các kênh truyền thông như internet, mạng xã hội cùng với các tài liệu truyền thông như pano, áp phích, tranh, ảnh, tờ rơi, tờ gấp… đã đóng vai trò lớn trong việc truyền tải thông tin đến nhân dân đặc biệt là các dân tộc sống ở vùng dân tộc thiểu số.

Mặt khác, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực truyền thông đã có những tác phẩm, bài viết có tính thời sự, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo, phù hợp trình độ dân trí, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của từng dân tộc thiểu số, từng vùng dân tộc thiểu số khác nhau. Đặc biệt, về hình thức trình bày, tranh, ảnh rõ chủ đề, hình ảnh không mờ nhòe, chú thích đủ các yếu tố thông tin cần thiết; chữ to, kết hợp ảnh đẹp, nét, đúng khuôn khổ quy định.

Mạng lưới thông tin vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có sự phát triển nhanh, tỷ lệ người xem, nghe đài phát thanh và truyền hình khá cao. Hầu hết các đài phát thanh và truyền hình Trung ương và địa phương đều có các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc...

Công an Gia Lai phối hợp cùng cán bộ y tế, dân quân tự vệ tổ chức tuyên truyền, nâng cao kĩ năng phòng chống Covid-19 cho người dân.

Báo chí truyền thông đã hướng dẫn, cổ vũ, động viên đồng bào sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; tạo dư luận xã hội, khơi dậy quyết tâm, thúc đẩy đồng bào các dân tộc tự giác vươn lên thoát nghèo, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời, báo chí truyền thông đã phản bác kịp thời những luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu và các thế lực thù địch, đẩy mạnh tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…

Bên cạnh đó, khi tiến hành truyền thông gián tiếp ở vùng dân tộc thiểu số vẫn còn một số hạn chế. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác truyền thông gián tiếp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số như tủ sách pháp luật, nhà văn hóa, hệ thống thông tin truyền thanh công cộng, các trang thiết bị kỹ thuật thu, dựng chương trình, thu phát sóng của đài phát thanh, truyền hình cũng như các đài cấp huyện, xã còn thiếu, không đồng bộ, công suất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu xem, nghe, nhìn ngày càng cao của đồng bào dân tộc thiểu số.

Truyền thông gián tiếp chủ yếu thông qua các sản phẩm truyền thông, trong khi thực tế nhiều sản phẩm truyền thông chưa đề cập đầy đủ đặc trưng văn hóa các dân tộc, vùng miền; chưa có sự chuyên biệt phù hợp với nét văn hóa, tập quán của nhiều dân tộc; chưa có sự khác biệt rõ rệt về nội dung tài liệu và hình thức truyền thông giữa các tỉnh đồng bằng nơi có đông người Kinh sinh sống và các tỉnh có đông đồng bào thiểu số sinh sống.

Đồng bào thiểu số sinh sống trên địa bàn rộng, các hộ dân sống rải rác, trình độ dân trí thấp điều kiện tiếp cận dịch vụ thông tin hạn chế, ít được tiếp xúc với các phương tiện nên không thể áp dụng các biện pháp truyền thông tập trung như việc sử dụng các phương tiện truyền thanh hay cung cấp các thông tin qua báo chí, các trang tin điện tử.

Công tác truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân tộc thiểu số đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội, hỗ trợ thúc đẩy các dân tộc thiểu số xóa đói, giảm nghèo, hướng tới phát triển bền vững. Để thực hiện được mục đích này, người làm công tác truyền thông bên cạnh việc xây dựng nội dung truyền thông phù hợp cần lựa chọn phương thức truyền thông hiệu quả.

Phương thức truyền thông trực tiếp hay truyền thông gián tiếp ở vùng dân tộc thiểu số được thực hiện bằng những cách thức, biện pháp với những ưu điểm và hạn chế, thuận lợi và khó khăn riêng. Việc chọn phương thức truyền thông trực tiếp, hoặc phương thức truyền thông gián tiếp, hoặc kết hợp cả trực tiếp và gián tiếp khi tiến hành công tác truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số cần căn cứ vào các điều kiện và trường hợp cụ thể để đạt được mục đích đã định trước.

TS. Cao Thị Dung

(*) Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển tiếng Việt, NXb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Bình luận