Phương thức truyền thông cho cộng đồng thiểu số

01/03/2019, 01:43

Phương thức truyền thông cho cộng đồng thiểu số - Ngôn ngữ là quyền lực để con người có thể xâm nhập vào xã hội. Ảnh hưởng và sức mạnh của ngôn ngữ có ý nghĩa đối với các thành viên của từng nhóm văn hóa và dân tộc. Trong mỗi cộng đồng, việc sử dụng ngôn ngữ có tầm quan trọng sống còn để giao tiếp giữa chính họ và giữa họ với bên ngoài.

Giáo dục luôn là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Ảnh: TL

Mỗi cộng đồng có các tiêu chuẩn, quy tắc, hình thức và ký hiệu giao tiếp khác nhau. Các nghiên cứu về ngôn ngữ truyền thông cho thấy sự tương tác của một nhóm người thay đổi theo nhiều khía cạnh: Tần suất và giá trị của việc nói, diễn giải và các dạng ngôn ngữ được chia sẻ.

Không phải tất cả các thành viên trong nhóm đều giao tiếp theo cùng một cách. Điều này là do ảnh hưởng bởi một số khía cạnh, như mối quan hệ, tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội và thế hệ.

Rào cản ngôn ngữ trong giao tiếp

Ngôn ngữ là một thể chế xã hội được hình thành bởi các quy tắc và thói quen tập quán được hệ thống hóa, giúp chúng ta giao tiếp với nhau. Mỗi người nói chuyện theo cách cư xử, giao tiếp của riêng cá nhân họ, nhưng hành động nói của họ dựa trên ngôn ngữ và quy định mà tất cả mọi người cần phải học(1) .

Nói chung, ở bất cứ quốc gia nào kể cả những quốc gia phát triển, người dân tộc thiểu số thường có học vấn thấp và nhiều khả năng nghèo hơn so với những người thuộc chủng tộc lớn. Xu hướng ngành nghề chủ yếu mà họ làm là những công việc có tay nghề thấp, lao động phổ thông, hoặc không công ăn việc làm.

Đối với một số quốc gia đa văn hóa, hay đa sắc tộc, “thiểu số” ở đây thường dùng để chỉ những người di cư từ các nước đến. Các cuộc chiến tranh thế giới và chiến tranh ở các khu vực, hạn hán kéo dài, nạn đói rét đã tạo nên những đợt di cư lớn trong lịch sử.

Tại những quốc gia tiếp nhận người di dân từ hàng trăm năm như Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Canada, đã có rất nhiều nghiên cứu về vai trò của ngôn ngữ giúp người di dân, các cộng đồng thiểu số gia nhập vào văn hóa của đất nước nói tiếng Anh hoặc Pháp. Do hạn chế về ngôn ngữ, nên khi sang một đất nước khác sinh sống, họ thường sống co cụm với nhau trong một khu vực để có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Những nhóm người này thường không đi làm hoặc làm ăn nhỏ lẻ, sống bằng tiền trợ cấp xã hội, ít có giao tiếp với cộng đồng khác.

Thường phải mất một thế hệ, khi con cháu của những người di cư được sinh ra trên đất nước đó, được hưởng thụ các điều kiện giáo dục của người bản xứ, họ mới tự tin và có đủ điều kiện gia nhập vào một cộng đồng lớn.

Ngay tại khu vực châu Á, Hồng Kông trước đây nằm dưới sự bảo trợ của Anh Quốc nên đây cũng là một địa chỉ có nhiều người nhập cư, kể cả từ Trung Quốc lục địa. Báo cáo về tình trạng dân tộc thiểu số ở Hồng Kông (1997 - 2014), cho thấy, trong thời kỳ đầu các dân tộc thiểu số đến từ Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Việt Nam đều là nhóm người có tỷ lệ giáo dục thấp và chủ yếu là lao động chân tay, đồng thời cũng là nhóm gây tội phạm cao tại Hồng Kông.

Hồng Kông từng là thuộc địa của Anh. Ảnh: TL

Trong một thế kỷ Hồng Kông là thuộc địa của Anh, người Anh đã tuyển dụng nhiều người từ Ấn Độ, Pakistan và Nepal đến Hồng Kông để làm việc trong các lực lượng cảnh sát, quân đội, canh gác các nhà tù, giúp Chính phủ Anh cai quản thuộc địa và phòng thủ địa giới. Trong thời điểm này, những người dân Nam Á sống ở Hồng Kông không gặp phải vấn đề tìm việc làm vì ngôn ngữ chính thức của họ là tiếng Anh đã giúp họ hoà nhập nhanh chóng.

Sau khi Anh bàn giao Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997, Chính phủ Trung Quốc thi hành chính sách giáo dục nhấn mạnh việc sử dụng tiếng Trung Quốc. Năm 2003, ngôn ngữ Trung Quốc đã được áp dụng bắt buộc để có thể nhập cư, và thêm các quy định tiếp tục gây khó khăn cho các cá nhân thuộc dân tộc thiểu số tham gia làm việc trong cơ quan của chính phủ.

Theo số liệu gần đây, trong số 7 triệu người sống ở Hồng Kông, có tới 580.000 người thuộc các dân tộc thiểu số, trong đó có hơn 80.000 người đến từ các nước Nam Á. Trong khi nhiều người đến từ Nam Á đã trở thành dân cư của Hồng Kông, nhưng họ vẫn thấy khó để trở thành một phần của xã hội chính thống, chủ yếu là vì sự khác biệt về văn hóa và thực tế tiếng Trung không phải là tiếng mẹ đẻ của họ. Do đó, cơ hội cho họ về giáo dục và việc làm bị hạn chế. Nhiều người trong số họ thuộc các tầng lớp thấp của xã hội, và ít cơ hội cải thiện tình trạng cuộc sống(2) .

Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Ảnh: TL

Việt Nam có 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số. 54 dân tộc có ngôn ngữ riêng và nền văn hóa truyền thống đặc sắc của mình. 24 dân tộc có chữ viết riêng như tiếng Thái, Mông, Tày, Nùng, Khmer, Gia Rai, Ê-đê, Hoa, Chăm... Chữ viết của một số dân tộc thiểu số như Thái, Hoa, Khmer, Chăm, Ê-đê, Tày-Nùng, Cơ ho và chữ Lào được sử dụng trong các trường học.

Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số với những chính sách hỗ trợ đặc biệt, người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã có mức sống được cải thiện lên một cách toàn diện. Tuy nhiên cuộc sống của đồng bào nói chung còn rất kém so với người Kinh, với 70% người dân tộc thiểu số rơi vào tình cảnh cực nghèo.

Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới(WB)(3) , một trong năm lý do chủ chốt nhất dẫn đến cảnh nghèo khó của đồng bào dân tộc thiểu số là do bị cô lập về mặt xã hội bởi các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, và trình độ học vấn thấp. Ngôn ngữ có thể đóng vai trò là rào cản đối với giao tiếp ngay cả khi chúng ta sử dụng cùng một ngôn ngữ nhưng cách phát âm khác nhau, các ngôn từ được dùng khác nhau ở từng địa phương.

Rõ ràng, chính sách ưu tiên giáo dục đồng bào dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam để giúp trẻ em đến trường học kiến thức và học Tiếng Việt là biện pháp hỗ trợ có thể mang lại những thay đổi tích cực cho cuộc sống của họ, để hoà nhập xã hội và tìm việc làm. Để đạt được khả năng tiếp cận thông tin và tham gia vào các hoạt động xã hội, bên cạnh việc biết đọc, biết viết tiếng Việt để mở rộng cơ sở tri thức, tiếng dân tộc cũng cần được duy trì, trong xu thế hội nhập nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc.

Giáo dục ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng, tác động đến cuộc sống và an sinh của các dân tộc thiểu số. Ảnh: TL

Các hình thức truyền thông cho đồng bào dân tộc

Từ năm 2012, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để tăng cường thông tin cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển. Chương trình nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận thông tin giữa các vùng miền và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn hóa và truyền thống của người dân; duy trì an ninh quốc phòng ở miền núi, vùng sâu vùng xa cũng như ở các vùng dân tộc thiểu số.

Thực tiễn cho thấy, hiện nay, đời sống của đồng bào dân tộc đang dần được nâng lên, nhiều hộ gia đình đã có ti vi, điện thoại di động, giao thông cũng thuận lợi hơn. Hầu hết các cơ quan báo chí từ Trung ương tới các địa phương đều có các ấn phẩm dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số theo ngôn ngữ của họ. Ví dụ, tất cả các đơn vị chủ chốt của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) đều tham gia sản xuất thông tin về vùng dân tộc thiểu số.

Bên cạnh hệ thống truyền thông đại chúng với hàng trăm ấn phẩm báo in, phát thanh, truyền hình, bản tin... Đảng và Nhà nước vẫn chú ý đến hình thức truyền thông lưu động Hình thức chiếu phim lưu động vẫn đang là một kênh thông tin mang lại hiệu quả tích cực, nhất là ở cơ sở. Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Chính sách đặc thù hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến phim tới vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn, được thực hiện trong hai năm 2017 - 2018 với nguồn kinh phí 41 tỉ đồng(5) .

Trên cơ sở đó, Nhà nước đầu tư 68 bộ thiết bị chiếu phim bao gồm máy chiếu phim lưu động kỹ thuật số và hệ thống trang thiết bị kỹ thuật đi kèm cho các đội chiếu phim lưu động. Trong năm 2017, Trung tâm Chiếu bóng lưu động đã thực hiện 1.176 buổi chiếu phim; bình quân mỗi đội Chiếu bóng lưu động phục vụ gần 120 buổi/năm với nội dung phim đa dạng, phong phú, nguồn phim được đổi mới, thuyết minh bằng cả tiếng Kinh và tiếng đồng bào dân tộc thiểu số (Mường, Mông...) chiếu trên màn hình rộng(6) .

Cách thức tuyên truyền trước mỗi buổi chiếu đều được lựa chọn phù hợp với truyền thống tập quán các dân tộc. Trong đó, tập trung tuyên truyền chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước; phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; nhân rộng các mô hình, điển hình; hướng dẫn phát triển kinh tế gia đình.

Truyền thông giúp các dân tộc thiểu số vươn lên, xóa đói giảm nghèo. Ảnh: TL

Khi giao tiếp với các nhóm người dân tộc thiểu số, các yếu tố văn hóa, niềm tin, tín ngưỡng rất ảnh hưởng đến hành vi tiếp nhận thông tin. Người làm truyền thông bắt buộc phải có hiểu biết về văn hóa của các nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số mục tiêu, sẵn sàng học hỏi và kiên nhẫn để dần tạo sự chấp nhận và thấu hiểu. Điều quan trọng khác là những người làm truyền thông phải biết cách tuyên truyền để các thành viên nhóm dân tộc thiểu số hiểu được tầm quan trọng của việc học ngôn ngữ phổ thông.

Một thực tế cho thấy ở các địa điểm du lịch, ví dụ như Sapa nơi có nhiều du khách nước ngoài đến thăm quan, trẻ em và cả người lớn nói tiếng Anh đôi khi nhuần nhuyễn hơn tiếng Việt. Lý do họ học tiếng Anh là để giao tiếp, bán hàng cho khách du lịch.

Và như vậy, những nỗ lực mà Đảng và Nhà nước cùng các cơ quan báo chí đã dành rất nhiều ngân sách cho việc sản xuất thông tin có thể không đạt được hiệu quả vì đồng bào dân tộc thiểu số không hiểu ngôn ngữ, hoặc không quan tâm.

Việc dạy tiếng Việt ở các trường khu vực thiểu số có thể dẫn đến việc các em giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ nhiều hơn, và do điều kiện nên không tổ chức được các hoạt động ngoại khóa để các em có khả năng tương tác với người Kinh trong khu vực. Điều này tiếp tục đặt ra những khó khăn trong học tập ngôn ngữ. Do đó, khi giải quyết vấn đề đào tạo ngôn ngữ cho các dân tộc thiểu số, Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương cần có các biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao đời sống của các dân tộc thiểu số cùng một lúc.

Ngôn ngữ không chỉ được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, mà còn là một chỉ báo bản sắc văn hóa của mỗi con người. Sự khẳng định của mỗi cá nhân được truyền đạt thông qua việc sử dụng ngôn ngữ cụ thể trong quá trình tương tác.

Giáo dục luôn là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc, vì nó là nền tảng tri thức; là cơ sở tạo ra những con người có tài năng, có trí tuệ, có nhân cách. Sự thịnh suy, thăng trầm của giáo dục có quan hệ trực tiếp và lâu dài với sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự lạc hậu và kém phát triển của một dân tộc, một quốc gia biểu hiện trước hết ở sự lạc hậu và kém phát triển của nền giáo dục.

Để 54 cộng đồng dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số hòa nhập trong xã hội là một quá trình hai chiều, bên cạnh sự nỗ lực để giúp các dân tộc thiểu số vươn lên, xóa đói giảm nghèo, đại đa số chúng ta là dân tộc Kinh cũng cần phải thấu hiểu văn hóa, niềm tin, tín ngưỡng của người dân tộc thiểu số./.

PGS,TS Đinh Thị Thúy Hằng

--

(1) Arthur Asa Burger, 1998, Simiotics Analysis in Media Analysis Techniques, London, Saga.
(2) South China Morning Post: Perspective: How can Hong Kong lift language barrier facing minorities? published Monday, 26 August, 2013
(3) http://blogs.worldbank.org/eastasiapacific/vi/vn-whyethnic-minority-poverty-persistent-vietnam
(4) http://dantocmiennui.vn/luu/day-manh-thong-tintuyen-truyen-den-vung-dan-toc-thieu-so/1521.html
(5) http://dantocmiennui.vn/luu/day-manh-thong-tintuyen-truyen-den-vung-dan-toc-thieu-so/1521.html
(6) https://tuoitre.vn/chi-41-ti-dong-chieu-phim-cho-cacvung-kho-khan-1308924.htm

Tài liệu tham khảo
1.Arthur Asa Burger, 1998, Simiotics Analysisin Media Analysis Techniques, London, Saga.
2. South China Morning Post: Perspective: How can Hong Kong lift language barrier facing minorities? Published: Monday, 26 August, 2013
3. Rebecca Marschan, 1999: In the shadow: the impact of language on structure, power and communication in the multinational, International Business Review, Volume 8, Issue 4, August.
4. http://blogs.worldbank.org/eastasiapacific/vi/vn-whyethnic-minority-poverty-persistent-vietnam

 

Bình luận