Những ký ức đẹp cần lan tỏa

05/04/2020, 10:55

Những ký ức đẹp cần lan tỏa - Tôi đọc “Chúng tôi - một thời MŨ RƠM MŨ CỐI” của Huỳnh Dũng Nhân vào những ngày cuối tháng 3/2020, khi trời chuyển mình ấm áp, mặc dù thỉnh thoảng còn những làn gió heo may mỏng manh sương khói.

Cuốn sách mới ra mắt của nhà báo Huỳnh Dũng Nhân

Vào những ngày này, đáng ra người Hà Nội sẽ bình yên đón nhận từng khoảnh khắc chuyển mùa của phố phường, nhưng không! Đại dịch Covid - 19 khủng khiếp đã đảo lộn mọi thứ! Tôi cũng như mọi người đang thực hiện theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ: Ở nhà nhiều nhất có thể! Thế là, sách trở thành “thức ăn” để nạp thêm năng lượng!

Nhà văn, nhà báo, nhà giáo Huỳnh Dũng Nhân đã từng công tác tại báo Tuổi trẻ, báo Lao động, rồi về Hội Nhà báo Thành phố Hồ Chí Minh, từng trúng cử vào Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam khóa 8, 9. Ông là con cán bộ Miền Nam tập kết, nên có “cơ hội” sinh ra và lớn lên ở đất Bắc. Cả ba, mẹ ông (nhà báo Huỳnh Hùng Lý và Lý Thị Hoa) đã có thời làm báo ở Nhân Dân.

Tuổi thơ ngộ nghĩnh và thời niên thiếu đẹp như ánh sáng ban mai, vô tư, trong sáng, hồn nhiên, hiếu động của Huỳnh Dũng Nhân đã gắn chặt, bền lâu bằng một tình cảm nồng nàn, thẳm sâu với cây đa cổ thụ 71 Hàng Trống (Hà Nội) - nơi tọa lạc của báo Nhân Dân và khu tập thể của báo ở ngõ Lý Thường Kiệt. “Trở lại những kỷ niệm tuổi thơ: Tôi còn nhớ hồi đó nhà tôi được bố trí ở một phòng nhỏ trong cơ quan, tận trong góc Hàng Trống và đường Bảo Khánh gần gara xe của cơ quan…” (tr.20) “Trong vườn tòa báo có một gốc đa cổ thụ, tuổi đã trăm năm có lẻ. Hồi đó chúng tôi thường cột hai chùm rễ đa lại với nhau làm thành chiếc ghế đu mà đứa trẻ nào cũng muốn được ngồi để bay lên cao tít… Cho đến tận bây giờ, hình ảnh gốc đa ấy vẫn in đậm trong trí nhớ chúng tôi và là biểu tượng thân quen của tòa soạn.” (tr.30-31) “Tôi nhớ đến ngay khu tập thể báo Nhân Dân ở ngõ Lý Thường Kiệt của mình, đúng là một địa chỉ có thể nói là “ra ngõ gặp… nhà báo” (tr.46).

Mỗi người, dù đó là ai – người bình thường, hay vĩ nhân đều có những dấu ấn trong cuộc đời đi sâu vào tiềm thức, từ đó hình thành nên tình cảm, tư tưởng và phẩm chất của họ. Huỳnh Dũng Nhân không sinh ra ở tòa soạn báo Nhân Dân, hay ngõ Lý Thường Kiệt, nhưng những năm tháng tuổi thơ của ông được gắn chặt, bồi đắp ở đây. Vì vậy, cho dù nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng nỗi nhớ đau đáu của ông vẫn hướng về cây đa Hàng Trống, về khu tập thể báo Nhân Dân ngõ Lý Thường Kiệt, nó đã, đang và sẽ dung dưỡng, ôm ấp tâm hồn ông! Nơi bắt đầu bước chân trên đường đời đã thấy một thế giới đầy mộng mơ, sôi động, kỳ ảo với Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, Tháp Bút, Bờ Hồ, Thủy Tạ, nhà hàng Hàm Cá Mập, tàu điện leng keng… thấm đẫm tình người.

Với bảy chương và lời cuối sách, “Chúng tôi - một thời MŨ RƠM MŨ CỐI” của Huỳnh Dũng Nhân gồm 323 trang, trang nào cũng ngồn ngộn sự kiện, đầy ắp cảm hứng, tình tiết, hình ảnh, sự việc, con người. Nhà báo, nhà văn Huỳnh Dũng Nhân - một con người đa tài, năng động, chuyên nghiệp trong nghề và sắc sảo trong lối viết đã đưa đến cho bạn đọc nguồn cảm hứng vô tận về ký ức, về sự chiêm nghiệm cuộc sống, những trăn trở, suy ngẫm về con người và thời đại. Mặc dù cuốn sách gắn với những kỷ niệm riêng của tác giả, nhưng lại khắc hoạ phần nào chân dung của xã hội khi những câu chuyện của quá khứ có nhiều liên hệ với đời sống hiện tại. Những trang viết mang nhiều thông tin, không những có ý nghĩa giáo dục mà còn mang giá trị nghệ thuật, nó đươc soi chiếu bởi tài năng, bản lĩnh và kinh nghiệm sống của tác giả.

Cậu bé Huỳnh Dũng Nhân thời học vẽ ở Hà Nội (1968) (hình cắt từ phim tư liệu của Đài Truyền hình Nhật Bản)

Những hồi ức của Huỳnh Dũng Nhân dẫn dắt bạn đọc qua một miềm ký ức tràn ngập cảm xúc, không chỉ riêng tác giả mà cả một thế hệ, một dân tộc, một đất nước hiền hòa tươi đẹp; những tên đất, tên làng, sự việc, con người với tấm lòng trong sáng như những thiên thần… cứ lần lượt hiện lên nơi trước đây họ đi sơ tán: “Rượu, bia… bay lên cùng ký ức. Vân Đình, Tuy Lai, Thống Nhất, Đỗ Động, Phượng Cách hiện về. Những rặng tre ven làng mộc mạc, những hầm chữ A in dấu chân trần. Những chiếc mũ rơm dính đầy mực tím. Những bữa cơm độn sắn, những lần lên đồi chị Lê, bạn Tảo, bạn Lâu… Những người nông dân răng đen áo nâu sờn rách nhường hẳn mấy gian nhà cho bọn trẻ “sơ mít”. Rồi những tiếng máy bay gầm rú. Những câu chuyện thời chiến nao lòng. Những cái đêm giá rét díu mắt lại ngồi quanh cái radio nghe đài đọc chuyện đêm khuya mà trông về phương trời Hà Nội. Sân đình mái chùa họ Phùng chứng kiến những đứa trai bắt đầu biết thương nhớ và những cô con gái lén lút điệu đàng…” (tr.295).

Cách đánh giá con người, sự việc một cách chân thành, trong sáng, hồn nhiên, được chiếu qua lăng kính tư duy của Huỳnh Dũng Nhân là sự thừa hưởng từ truyền thống gia đình. Phong cách miêu tả sắc sảo, sống động, những suy nghĩ hết sức chân phương nhưng sâu sắc và nhân văn! Những trang viết của Huỳnh Dũng Nhân hấp dẫn người đọc bởi những tư liệu có giá trị về bản thân người viết, về không khí thời đại, các sự kiện lịch sử trong quá khứ mà cuốn hồi ký dựng nên. Nó có giá trị vì tác giả không chỉ trung thực với mình, mà rất có trách nhiệm với xã hội, không tô vẽ mình và thêm thắt cho người khác. Nét nổi bật nhất trong tác phẩm là cách kể chuyện theo dòng hồi tưởng, nhớ đến đâu kể đến đó và thường không sử dụng thủ pháp cốt truyện. Tác giả có thể hồi tưởng theo trật tự thời gian tuyến tính từ quá khứ xa đến quá khứ gần. Tất nhiên dòng hồi ức cũng có lúc bị đảo lộn không theo quy luật khách quan mà chịu sự tác động của ý thức tác giả, nghĩa là sự phản ánh hiện thực của tác phẩm theo quy luật riêng của dòng hồi tưởng. “Những kỷ niệm về nơi cư ngũ thường có dấu ấn sâu sắc và dai dẳng hơn, đậm đà hơn, da diết hơn trong ký ức mọi người. Cứ tưởng nửa thế kỷ trôi qua rồi, những kỷ niệm chỉ còn phảng phất đâu đó, nhưng không, khi có người hàn huyên tâm sự, ôn nghèo kể khổ, thì tất cả ký ức lại ùa về, khiến ngày tháng của nửa thế kỷ trước lại như mới đâu đây ngày hôm qua” (tr.64).

Sự hấp dẫn của những trang viết ở đây nằm trong góc khuất của đời sống cá nhân, thế nhưng thông qua những câu chuyện đó, người đọc nhận ra bức tranh lịch sử khá đa dạng. Những trang viết của Huỳnh Dũng Nhân đã chuyển tải bao chuyện đời, đầy ắp chất liệu, hiện thực cuộc sống, lịch sử, xã hội và giàu tính văn chương. Những mẩu chuyện quá khứ là chân dung tác giả với những lối rẽ, thăng trầm cuộc đời, là gương mặt đất nước, thời đại một thời vừa nhọc nhằn, ngổn ngang bom đạn nhưng rất nhân văn. Là số phận những con người, những bạn bè gắn bó thân thương trên những bước đường đời, và bạn trong làng báo, làng văn thuộc nhiều thế hệ… Những trang hồi ký hiện rõ bức tranh xã hội trải dài nửa thế kỷ với chân dung nhiều người xuất hiện trong mối quan hệ với tác giả! Tất cả đều được Huỳnh Dũng Nhân kể thật sâu sắc.

Quyển hồi ký cũng dựng lên những ngày sơ tán của lớp trẻ báo Nhân Dân thật gian khổ, nhưng thật đẹp! Tất nhiên, chẳng ai muốn cuộc sống đó lặp lại trong đời, nhưng lạ thay, nó khiến ta nuối tiếc vì sẽ không bao giờ lặp lại. Những ngày Mỹ ném bom Hà Nội, lớp trẻ (trong đó có Huỳnh Dũng Nhân) phải đi sơ tán. Ngày đó, sơ tán cũng là một nhiệm vụ thiêng liêng đối với một dân tộc sẵn sàng đương đầu với bom đạn nhưng luôn tin tưởng vào tương lai tươi sáng; cũng như ngay bây giờ, quán triệt sâu sắc tinh thần “chống dịch như chống giặc”, để chiến thắng dịch bệnh: ở nhà là yêu nước!

Đi sơ tán, bước ra thế giới bên ngoài, đường lạ, nơi ở lạ, con người nhà quê lạ, nhưng những đứa trẻ lại được chiêm nghiệm cuộc sống, khám phá những điều mới, khám phá khả năng của mình, thoát khỏi nỗi sợ hãi khi quanh quẩn bên bố mẹ. Đặc biệt, lũ trẻ nhận ra những điều tưởng “điên rồ” nhưng hợp lý: Biết phân biệt được cây lúa khác cây hành, biết đi hái rau tập tàng: lá ớt, lá gang, lá lốt, rau sam, rau dền gai, lá mồng tơi… để cải thiện. “Một vùng quê thơ mộng và nhiều phong cảnh đồi núi, sông hồ đẹp như cái tên của nó” (tr.88); “nơi đóng quân của trại trẻ sơ tán là một vùng cây cối xanh tươi, nhiều tre nứa, nhiều đồng ruộng ao hồ” (tr.95). Những lần sơ tán đó đã dạy cho bọn trẻ cách quản lý chi tiêu, hoặc sắp xếp lịch trình và làm quen với môi trường mới khi không có bố mẹ bên cạnh. Những ông bố, bà mẹ chắc hẳn phải có một niềm tin cực lớn mới sẵn sàng giao phó những đứa con 5, 6… 10 tuổi cho những người không phải ruột thịt… Đến đâu những đứa trẻ cũng gặp được sự sẵn sàng nhường nhịn những điều kiện sống tốt nhất với tấm lòng mênh mông thực sự. Tác giả đi sơ tán nhiều nơi: Vân Đình, Tuy Lai, xã Thống Nhất… đến đâu cũng bắt gặp những tấm lòng tử tế như vậy. Khi chiến tranh ác liệt, đạn bom, người ta sống với nhau mà chẳng cần điều kiện gì! Cuộc sống no đủ bây giờ, lại không phải lúc nào cũng được như thế!

Là nhân chứng sống, nhưng Huỳnh Dũng Nhân không có ý định chép lại lịch sử. Ông đã tái hiện những ngày đã sống, đã học, đã làm, đã chứng kiến và cũng từ đó phản chiếu được những chặng đường lịch sử của dân tộc. Đấy là những tháng ngày gian khổ mà hào hùng trong công cuộc đấu tranh chống giặc Mỹ xâm lược, là những khó khăn, chông chênh của thời bao cấp cũng như cuộc sống tươi đẹp của những ngày đất nước thống nhất, thanh bình… Tất cả chân thực, sinh động đều được hiện lên qua những trang viết đầy tính nghệ thuật. Dù thời gian đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng điều đó đã giúp tác giả nhìn nhận lại nhiều sự việc, con người, khiến những trang viết của ông tràn ngập yêu thương, tình người! Xin cám ơn nhà văn, nhà báo Huỳnh Dũng Nhân!

Xin được mượn lời tác giả ở cuối sách để dừng bài viết: “Hôm nay tôi xin viết tiếp những dòng ký ức để khép lại những trang sách về một thời mà lớp trẻ của tôi, chúng tôi, chúng ta… đã cùng trải qua, đó là thời kỳ của mũ rơm, mũ cối. Và bây giờ đã là thời kỳ mũ bảo hiểm, tôi ngoái lại những kỷ niệm của hai mươi năm đầu đời thấy tự hào và thương nhớ trong lòng (tr.316)…

Hồ Tây - Hà Nội, ngày 4 tháng 4 năm 2020

PGS, TS. Nguyễn Thị Trường Giang

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Bình luận