Nhân cách lão Lai trong con người chính khách

10/05/2019, 08:27

Nhân cách lão Lai trong con người chính khách - Tôi là một trong số những độc giả may mắn có được trong tay cả 8 tập thơ của Nhà báo - Nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh. Không phải là người làm thơ chuyên nghiệp, vì trong suốt hơn năm mươi năm, ông từng trải qua rất nhiều cương vị công tác mà đặc thù công việc khó có thể cho phép người ta thả hồn vào văn chương, thơ phú.

Lão Lai Tử - một trong Nhị thập tứ hiếu trong văn hoá Trung Hoa cổ đại

Mãi đến khi ngấp nghé cái ngưỡng tuổi “cổ lai hy”, ông mới cho ra lò tập thơ đầu tay Từ những nẻo đường (2010). Ấy vậy mà có mấy ai ngờ, trong 9 năm, trong đó có 5 năm (2011 - 2016) với cương vị Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, lúc nào cũng bộn bề công việc mà ông vẫn trình làng tới 8 tập thơ. Một sức sáng tạo có thể nói là phi thường. 9 năm là không đủ thời gian chắt chiu câu từ, ý tứ để làm nên 8 tập thơ. Hình như đặc trưng nghề nghiệp trong suốt mấy mươi năm làm báo; làm công tác tuyên giáo; công tác lý luận văn học, nghệ thuật... vốn sống, thi tứ đã tích tụ căng tràn trong trí não nên 9 năm qua năng lượng tích tụ ấy mới được “giải phóng” để cống hiến cho độc giả yêu thơ tới 8 tập thơ mà tập nào cũng dầy dặn và có dấu ấn riêng.

Xanh mãi là tập thơ thứ 8 của tác giả Nguyễn Hồng Vinh được trình làng thơ trong quý II/2019 này và nó đã được độc giả yêu thơ hào hứng đón nhận. Đã có khá nhiều bài phê bình, cảm nhận tập thơ Xanh mãi, trong đó có những bài viết tinh tế, sâu sắc như Một hồn thơ trẻ trung, đằm thắm của nhà thơ Bằng Việt (nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thành phố Hà Nội, Phó Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam), bài Tiếng thơ chân tình, ân nghĩa của nhà phê bình văn học Nguyên Thanh, bài Cái cũ đâu phải là xưa cũ của Quỳnh Chi và nhiều bài đã công bố cả trên báo viết, báo hình (Đài truyền hình Nhân Dân) trong những ngày vừa qua...

Tôi vốn là kẻ ngoại đạo của làng văn, chỉ là một trong số những độc giả yêu thích thơ Hồng Vinh nên không dám “múa rìu qua mắt thợ” phẩm bình, đánh giá, chỉ ghi lại cảm nhận rất nhỏ của mình, không phải với cả tập thơ mà chỉ với một bài -  bài mở đầu của tập thơ Xanh mãi - bài Cha vẫn còn đây.

Mở đầu năm mới 2018, trong những ngày cận kề cái Tết cổ truyền dân tộc, những người con tha hương, ai cũng rưng rưng nhớ nhà, nhớ quê hương bản quán và đặc biệt là nỗi nhớ đau đáu bậc sinh thành ra mình. Nguyễn Hồng Vinh không phải là ngoại lệ. Nhân “35 năm ngày Cha đi xa”, ông ghi lại cảm xúc của mình về Cha. Ấn tượng bài thơ mở đầu tập Xanh mãi gieo vào lòng người đọc là tấm tình của một nhà báo, nhà thơ; và cao hơn, là một chính khách thành đạt trên con đường công danh, sự nghiệp nhớ về đấng sinh thành.

Trong chặng đường hơn 50 năm công tác, ông đã trải qua nhiều cương vị, chức vụ lãnh đạo: Uỷ viên Trung ương Đảng; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội các khoá X, XI; Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (nhiệm kỳ 2011 - 2016)... Với những cương vị công tác ấy, ông đã thuộc hàng chính khách, và trên thực tế con người ông có đầy đủ phẩm chất của một chính khách. Nhưng cho dù là ai, dân thường hay chính khách thì trước cha mẹ vẫn là những đứa con. Càng có chúc vụ, địa vị xã hội cao, càng có hiếu với cha mẹ, lại càng được người đời trân trọng. Ở giác độ này, tôi cảm nhận thấy nhân cách Lão Lai trong con người Hồng Vinh qua bài thơ mở đầu tập thơ Xanh mãi.

Chuyện kể rằng: Lão Lai Tử (một trong Nhị thập tứ hiếu trong văn hoá Trung Hoa cổ đại) là người ở nước Sở, sinh vào đời Xuân Thu, đã 80 tuổi mà cha mẹ vẫn còn sống, ông thờ cha mẹ rất có hiếu. Không muốn cha mẹ thấy con già nua mà lo buồn, ông thường mặc áo sặc sỡ, rồi tay múa miệng hát trước mắt cha mẹ. Có hôm trời mưa rả rích, cha mẹ buồn, ông ra sân vớt bong bóng nước lên tay, bong bóng vỡ, ông khóc oa oa trước mặt cha mẹ như trẻ nít mới lên ba lên năm vậy, làm cha mẹ bật cười trước trò ngộ nghĩnh của con mình... Điển tích Lão Lai đã được rất nhiều nhà thơ, nhà văn sau này dùng để ca ngợi lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ, như câu “Sân Lai cách mấy nắng mưa/ Có khi gốc tử đã vừa người ôm” (Truyện Kiều - Nguyễn Du).

Có rất nhiều nhà thơ, cả những nhà thơ - chính khách như Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm... đã có những bài thơ hay, rung động lòng người khi nói về cha mẹ như: Bầm ơi - Tố Hữu, Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm... Nhưng Hồng Vinh viết về cha mẹ lại có một giọng điệu riêng, giản đơn mà sâu lắng: “Một thời nước trắng đồng chiêm/ Bóng Cha ngả bóng con thuyền nghiêng chao”...

Mới đọc vậy thôi, người đọc đã thấy có gì đấy nao nao trong lòng, ký ức về một miền quê “chiêm khê mùa thối”, nghèo khó “no nước uống, thiếu cơm ăn”, con thuyền nan là phương tiện gắn bó, thân thiết với người dân miền chiêm trũng ngày xưa ấy, nó vừa là phương tiện giao thông, vừa là phương tiện kiếm sống. Khi nhớ về Cha, tác giả nhớ ngay đến hình ảnh Cha gắn với con thuyền. Con thuyền nghiêng chao bởi chính đời cha mẹ luôn nghiêng chao ở miền quê nghèo khó.

Cảm xúc của tác giả khi nhớ về Cha được nâng dần lên đến nghẹ lòng: “Gió đông dồn tụ khóm bèo/ Áo sờn một tấm tong teo thân già”. Những ai đã từng có quá khứ gian khổ, thiếu thốn ở những vùng quê chiêm trũng ngày xưa mới càng thấu hiểu cảm xúc của tác giả khi nhớ đến hình ảnh này. Mùa đông giá rét, ở trên cạn đôi khi còn thấy rét tái tê, huống gì giữa cánh đồng nước mênh mông với một tấm áo sờn, sao chống trọi được thiên nhiên khắc nghiệt ấy. Không chỉ cái ăn, cái mặc thiếu thốn, mà cả thiên nhiên khắc nghiệt đã bào mòn thân xác Cha đến “tong teo”. Đọc câu này, tôi - một người cũng lớn lên ở miền quê nghèo chiêm trũng nên “đồng khí tương cầu” với tác giả, và tôi đoán rằng, viết đến câu này, ông đã khóc...

Mùa đông đã vậy, mùa hè vẫn vất vả không kém đối với người làm nghề chèo thuyền đưa hàng như Cha. Mặt nước cánh đồng mùa hè chỉ mang theo chút hơi mát cho những ai ở trên bờ hứng gió, còn với những người suốt ngày phơi mặt giữa cánh đồng thì cái nắng mùa hè thật sự rất khắc nghiệt. Mùa hè, ông mặt trời thiêu đốt không gian mười mấy tiếng đồng hồ trong ngày, đốt cháy cỏ cây, kể cả mặt nước có khi cũng bị “nấu” đến nóng rẫy. Trong những ngày hè thời tiết khắc nghiệt vậy, Cha vẫn mải miết công việc: “Chang chang nắng lửa đồng xa/ Oằn lưng cha đẩy, ướt nhoà mồ hôi”. Làm nghề chở thuyền đưa hàng là công việc suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, không kể ngày, không kể đêm, có khách gọi là đi. Không ít những chuyến đi dằng dặc đêm trường: “Mòn đêm đưa khách ngược xuôi/ Mong trời mau sáng sớm mai hàng chờ”.

Sao không là đưa khách suốt đêm, hay thâu đêm mà là “mòn” cả đêm? Thời gian vật lý thì như nhau nhưng thời gian tâm lý thì khác nhau. Khi người ta mới yêu, một ngày không gặp dài như ba năm (nhất nhật bất kiến như tam thu); khi người ta phải ngồi tù, một ngày dài tựa nghìn năm (nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại). Một đêm, đối với người ngủ say, thời gian gần như không có độ dài; với người không ngủ được, đêm dài như bất tận; còn đối với những người làm nghề nặng nhọc thì thời gian về đêm hình như nó không phải là trôi qua, mà nó chỉ mòn dần, mòn dần từng giây, từng phút. Từ “mòn” mà tác giả dùng ở đây rất “đắt” là vì thế, nó phản ánh đúng tâm trạng của những người lao động gian khổ, chỉ mong từng phút, từng giây mòn đi để mình xong xuôi công việc, có thể nghỉ ngơi một chút. Một ước vọng nhỏ nhoi là được nghỉ ngơi một chút sau cả đêm trường vất vả mà đôi khi Cha vẫn không được hưởng, vì hàng núi công việc lúc nào cũng trực chờ.

Ngày cứ qua, tháng cứ qua, năm cứ qua, nhưng sự vất vả, gian khổ của cha mẹ thì vẫn vậy. Cả một thời trai trẻ “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời”, ngược xuôi làm lụng nuôi con cho đến khi lưng còng, gối mỏi mà cái nghèo khó, vất vả nó vẫn không chịu rời nên Cha vẫn chưa rời được con thuyền: “Lưng còng, răng rụng, mắt mờ/ Thuyền không lỗi hẹn bến bờ chờ mong”

Rồi đến lúc không thể muốn được nữa, tuổi già sức yếu, Cha không còn đẩy được con thuyền xuôi ngược, hoặc cũng có thể do Cha đến ngày được hái quả, con cái trưởng thành, đến lúc Cha được “già cậy con”, nhưng Cha vẫn chẳng chịu ngồi yên hưởng, còn chút tàn lực, Cha vẫn trút tình thương cho con, cho cháu bằng công việc “Đan rổ, vặn chổi rơm nồng gửi con”. Cha làm lụng vất vả cả một đời người, không cầu mong sự báo đáp, mà chỉ mong mỏi một điều thật giản dị, mong con dù ở đâu, dù làm ông to bà lớn gì cũng đừng quên nguồn cội, “Chớ quên đồng lúa nơi mình đã sinh”.

Một tình thương vô bờ, một ý nguyện giản dị ấy của Cha là hành trang đã nuôi dưỡng, nâng bước cho tác giả, một thanh niên bước ra khỏi luỹ tre làng từ một miền quê nghèo năm ấy, để rồi ông trưởng thành nên một cán bộ cao cấp, kinh qua nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của các cơ quan Đảng, Nhà nước... Và khi nhớ về Cha, ông đã cho độc giả được đọc, được ngẫm một bài thơ giản dị mà chất chứa bao ân tình, sâu lắng của tình người, tình đời...

Một dụng ý nghệ thuật của tác giả tập thơ Xanh mãi mà người đọc phải có công nghiền ngẫm, suy tư mới nhận ra: mở đầu tập thơ là bài Cha vẫn còn đây đó là nỗi lòng tác giả nhớ về Cha, khép lại tập thơ là bài Đạo và Đời: “Cha, Mẹ truyền lửa yêu thương/ Thầy cho ta nguồn tri thức/ Đời luyện chân cứng đã mềm/ Bạn dìu ta khi vấp ngã...”

Đạo và đời, bài thơ ngắn, chỉ có 4 câu, như một tuyên ngôn về lẽ sống của tác giả. Hơn 70 năm tuổi đời, hơn 50 năm làm báo, viết văn, làm thơ và hoạt động chính trị, Nguyễn Hồng Vinh tri nhận và “tổng kết” một lẽ đời thật giản đơn mà sâu sắc. Đọc câu đầu của bài thơ: “Cha, Mẹ truyền lửa yêu thương”, làm tôi lại nhớ cái cảm xúc lâng lâng, nghẹ ngào của tác giả khi nhớ về Mẹ trong một chuyến bay từ Ac-hen-ti-na về nước sau chuyến công tác đầu năm 2010, và tác giả đã ghi lại cảm xúc ấy trong bài Trên máy bay nhớ Mẹ (được in trong tập thơ Từ những nẻo đường - 2010).

Là một cán bộ cao cấp, từng kinh qua nhiều cương vị, chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, do nhu cầu công tác, Nguyễn Hồng Vinh không chỉ “Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng” mà ông còn có điều kiện đi khắp năm châu, bốn bể. Nhưng dù làm gì, đi đâu, trong ông không lúc nào nguôi nỗi nhớ bậc sinh thành, càng thành đạt trên đường công danh, sự nghiệp lại càng nhớ thương Cha “Áo sờn một tấm tong teo thân già/...Lưng còng, răng rụng, mắt mờ” vì sự mưu sinh cho gia đình, con cái, và cũng khôn nguôi nhớ về người mẹ nghèo: “Cọng rau héo, đêm cồn cào trở dạ/ Sinh con, Mẹ đói lả suốt tuần” (Trên máy bay nhớ Mẹ).

Người mẹ nghèo suốt một đời đầu đội, vai vác; sáng đầu chợ mai, chiều cuối chợ hôm để dồn sức cho con ăn học bằng người. Và, người con ấy khi nếm đủ vị ngọt bùi của cuộc đời vấn nhớ khôn nguôi những đắng cay đời mẹ. Khi đã thành một chính khách, rồi lên chức Ông trong gia đình, người Con – Nguyễn Hồng Vinh vẫn đinh ninh một điều: “Con xin tạc dạ, ghi lòng/ Lời Cha, Mẹ dạy vẹn tròn Hiếu – Tâm” (Trên máy bay nhớ Mẹ) để “Ở nơi chín suối, Mẹ hiền thảnh thơi...”

Với nhà thơ Hồng Vinh, mặc dù đã qua cái ngưỡng tuổi “cổ lai hy”, nhưng trong ông, chữ Hiếu, chữ Tâm, chữ Tình vẫn mãi mãi xanh, vì vậy, không phải ngẫu nhiên tác giả chọn khái niệm Xanh mãi đặt tên cho tập thơ thứ 8 của mình. Độc giả cũng tìm thấy trong Xanh mãi lẽ sống, niềm tin yêu của nhà thơ với quê hương, đất nước và con người, cho dù thực tế cuộc sống còn ngổn ngang những điều bất cập.  Đặc biệt là với đấng sinh thành, lúc nào nhà thơ cũng nghĩ mình là đứa con cả đời chưa trả đủ ơn nghĩa với cha mẹ, nhất là khi Cha, Mẹ đã đi xa, nên không còn cơ hội thể hiện tình cảm như Lão Lai Tử ngày xưa. Tình cảm ấy của nhà thơ đã lan toả đến độc giả yêu thơ Hồng Vinh khi đọc thơ ông, nhất là tập thơ mới ra lò tháng 4/2019 – tập thơ Xanh mãi...

Vĩnh Dân

Bình luận