Nguyễn An Ninh - “Chuông rè kêu khắp Tây đông”

Nhà yêu nước, chiến sỹ cách mạng kiên cường (Kỳ I)

17/10/2017, 10:13

Nhà yêu nước, chiến sỹ cách mạng kiên cường (Kỳ I) - Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước, một chiến sỹ cách mạng trung kiên đúng như nhận xét của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Tôi có cơ hội gặp và sống với Nguyễn An Ninh nhiều tháng ở Khám Lớn Sài Gòn trong những năm 1929 - 1930. Từ đó, tôi biết rõ Nguyễn An Ninh và tôi khẳng định rằng Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước, một chiến sỹ cách mạng kiên cường, kiên quyết đấu tranh vì Tổ quốc và dân tộc, cho đến hơi thở cuối cùng”.

Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Ảnh: TL

Gia đình hiếu học, giàu lòng yêu nước

Nguyễn An Ninh sinh ngày 15/9/1900 trong một gia đình có truyền thống Nho học, giàu lòng yêu nước thương nòi tại làng Long Thượng, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn, nay là xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Cha ông là Nguyễn An Khương, một nhà nho đã tham gia các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân. Nguyễn An Khương cũng là người lập ra Khách sạn Chiêu Nam Lầu từ cuối thế kỷ XIX tại số 49 đường Kinh Lấp, Sài Gòn (nay là đường Nguyễn Huệ) và lấy Chiêu Nam Lầu làm nơi trú ngụ cho các nhà yêu nước, làm cơ sở kinh tài của phong trào Đông Du ở phía Nam. Ông là nhà giáo, là dịch giả một số sách từ tiếng Trung Quốc, làm Chủ sự báo Lục tỉnh tân văn của Trần Chánh Chiếu và bị chính quyền thực dân bắt do liên quan đến phong trào Minh Tân của Trần Chánh Chiếu.

Từ nhỏ đến năm 10 tuổi, Nguyễn An Ninh sống với ông bà ngoại tại quê ở làng Long Thượng, theo học chữ Nho, đọc hết Tứ Thư, Ngũ Kinh. Năm 1910, ông được đưa lên sống cùng cha mẹ ở Chiêu Nam Lầu, học tiểu học tại Trường Dòng taberd và học trung học tại Trường Chasseloup Laubat. Do tốt nghiệp trung học loại ưu, ông được tuyển thẳng vào Trường cao đẳng Luật Hà Nội. Năm 1916, Nguyễn An Ninh ra Hà Nội học cao đẳng Luật. Sau 2 năm học Trường cao đẳng Luật Hà Nội, giữa năm 1918, ông trốn sang Pháp học mà không có hộ chiếu.

Trong thời gian ở Paris, ông có dịp làm quen với những nhà cách mạng Việt Nam nổi tiếng như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Ái Quốc, tiếp xúc và kết thân với một số nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng người Pháp, trong số đó có Paul Vaillant Couturier một thành viên Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, Nguyễn An Ninh ra nhập tổ chức Hội Liên hiệp thuộc địa và tích cực tham gia biên tập cho Báo Le Paria cùng Nguyễn Ái Quốc. Thời gian này, ông góp mặt vào nhóm “Ngũ long” nổi tiếng cùng với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, được đồng bào Việt kiều ở Pháp rất mến phục, nhưng cũng là những cái gai rất khó chịu trong con mắt chính quyền Pháp, nhất là Bộ Thuộc địa.

Tháng 10/1922, ông về nước để thăm dò tình hình phong trào đấu tranh, kết thúc lần thứ nhất sang Pháp. Sau lần này, ông còn trở lại nước Pháp ba lần nữa, trong đó lần thứ hai từ tháng 3 đến tháng 8/1923, lần thứ ba từ tháng 1 đến tháng 6/1925, lần thứ tư từ cuối năm 1927 đến cuối tháng 1/1928.

Kiên quyết đấu tranh vì dân tộc

Mỗi lần đến Pháp, Nguyễn An Ninh đều tận dụng mọi điều kiện, cơ hội để giao lưu gặp gỡ, thực hiện các cuộc diễn thuyết nhằm tố cáo chế độ cai trị thối nát của thực dân Pháp ở Đông Dương, tìm kiếm những tiếng nói cảm thông, ủng hộ từ bà con Việt kiều và những người Pháp tiến bộ, có lương tri. Tháng 4/1925, ông cho xuất bản tại Pháp cuốn sách “Nước Pháp ở Đông Dương” (La France en Indochine).

Ngày 22/5/1925, trong cuộc diễn thuyết do Hội Liên hiệp Pháp - Đông Dương tổ chức tại Khách sạn Hiệp hội Bác học (Hôtel des Sociétés Savantes), Nguyễn An Ninh đã phân tích tình hình ở Đông Dương và dự báo: “Cách mạng sẽ nổ ra ở Đông Dương trong vài năm sắp tới nếu thực dân Pháp không cải thiện chế độ thối nát”, và “... sẽ có Đảng Cộng sản giúp nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng”.

Mỗi lần từ Pháp trở về nước, hầu như Nguyễn An Ninh lại có thêm động lực, niềm tin và nhận thức mới mẻ đối với cuộc đấu tranh. Có lẽ điều đó là do ông nhìn rõ hơn thực chất xấu xa của chế độ thực dân ở Đông Dương khi so sánh với thực tế xã hội ở chính quốc, cũng như được tiếp thêm sự động viên từ chính phong trào yêu nước của những người Việt Nam đang sống ở Pháp.

Lần thứ nhất trở về từ Pháp, Nguyễn An Ninh có cuộc ra mắt công chúng Nam Kỳ tại Hội khuyến học Nam Kỳ, số 34, đường Aviateur Garros (nay là đường Thủ Khoa Huân) vào buổi tối ngày 25/1/1923. Tại đây, ông có cuộc diễn thuyết bằng tiếng Pháp “Une Culture pour les Annamites” (Một nền văn hóa cho người An Nam). Ông kêu gọi mọi người dân Việt Nam: “Noi theo cái học thức Pháp, đặng mở mang trí dân, rộng tư tưởng của dân, làm cho dòng giống tráng kiện, mau thoát cái ách nô lệ. Bằng cứ theo nẻo hoạn đồ, lấy việc làm quan là mục đích của việc học thì hỡi ơi! Sau này dòng giống sẽ yếu ớt, ắt có ngày kia rút vô rừng mà ở!”.

Lần thứ hai từ Pháp về nước, Nguyễn An Ninh lại diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Hội Khuyến học Nam Kỳ ngày 15/10/1923. Bài diễn thuyết của ông với tiêu đề “L’idial de la Jeunesse Annamite” (Lý tưởng của thanh niên An Nam), được đăng trên trên tờ La Cloche Fêlée số 5 và số 6 ngày 7 và 14/1/1924.

Sau này, năm 1926, chính Nguyễn An Ninh dịch bài diễn thuyết ra tiếng Việt với tiêu đề “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” và in thành sách khổ nhỏ bỏ túi. Người thanh niên 23 tuổi Nguyễn An Ninh dùng những lời lẽ hùng hồn mà tha thiết, uyên bác mà gần gũi để thuyết phục, thúc giục đồng bào mình, nhất là thanh niên, thức tỉnh khỏi sự u mê, lầm lạc về văn hóa lúc ấy đang bị chôn vùi trong những tư tưởng phong kiến lạc hậu.

Nguyễn An Ninh vạch trần chiều bài về vai trò “khai hóa” của thực dân Pháp ở Đông Dương chỉ là trò “tức cười”. Thực chất, “Vai trò của họ trước hết là kinh tế, nghĩa là lòng tham không đáy” (Nguyễn An Ninh Tác phẩm, Sđd, tr. 74). Và ông đi tới kết luận “Hãy tôn sùng những ai đã dùng tài năng hay thiên phú của mình mà nâng vị trí của dân tộc ta trên thế giới, và những ai đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống cho dân tộc chúng ta”.

Hai bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh đã gây tiếng vang lớn trong giới thanh niên trí thức ở Sài Gòn. Giới chức cầm quyền thực dân Pháp khó chịu và tức tối. Cognacp, Thống đốc Nam Kỳ lúc đó đã triệu Nguyễn An Ninh lên gặp. Không mua chuộc được ông cộng tác với chính quyền, hắn hăm dọa rồi ra lệnh cấm ông không được diễn thuyết hay tụ họp đông người ở bất cứ đâu.

Không thể diễn thuyết, Nguyễn An Ninh tìm cách ra báo để đấu tranh. La Cloche Fêlée (Chuông rè), tờ báo do ông chủ trương và trực tiếp tổ chức ra số đầu ngày 10/12/1923. Do sự o ép của chính quyền thực dân, báo chỉ ra được 19 số và đình bản ngày 14/7/1924. Tháng 1/1925 ông sang Pháp với mục đích chính là đón Phan Châu Trinh về nước. Ngày 26/6/1925, Nguyễn An Ninh cùng Phan Châu Trinh từ Pháp về đến Sài Gòn. Hai ông chủ trương tái bản Báo La Cloche Fêlée. Lần này, Phan Văn Trường lĩnh trách nhiệm Chủ nhiệm báo do ông có quốc tịch Pháp.

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn An Ninh đã bị thực dân Pháp bắt bỏ tù 5 lần. Lần thứ nhất, ngày 24/3/1926, Nguyễn An Ninh bị thực dân Pháp bắt sau cuộc diễn thuyết trước đó 3 ngày với lời lẽ công khai chống chủ nghĩa thực dân. Ông bị nhà cầm quyền kết án 18 tháng tù nhưng chỉ bị giam 10 tháng thì được “ân xá”.

Lần thứ ba, tháng 4/1936, Nguyễn An Ninh bị chính quyền thực dân bắt giam với tội “phá rối trị an”. Do ông tuyệt thực và phong trào đấu tranh dữ dội của nhân dân cả nước đòi tự do cho ông nên tháng 11/1936, Nguyễn An Ninh được trả tự do. Lần thứ tư, Nguyễn An Ninh bắt giam từ tháng 7/1937 đến ngày 3/3/1939 (Báo Dân chúng số ra ngày Thứ bảy, 4/1939 đưa tin “Anh bạn Nguyễn An Ninh được thả hôm qua”).

Ra khỏi tù, ông cộng tác với nhóm những người cộng sản ở Báo Dân chúng, làm báo, tham gia tổ chức các cuộc biểu tình chống chính quyền và ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Lần thứ năm, cũng là lần cuối cùng, thực dân Pháp bắt Nguyễn An Ninh ngày 5/10/1939 và kết án 5 năm tù, đày đi Côn Đảo. Do chế độ đày ải khắc nghiệt, độc ác nơi “địa ngục trần gian” Côn Đảo, Nguyễn An Ninh đã không thể sống đến mãn hạn tù. Ông mất trong tù ngày 14/8/1943 khi mới 43 tuổi, không được nhìn thấy Cách mạng Tháng Tám thành công 2 năm sau đó.

Nguyễn An Ninh kết hôn với bà Trương Thị Sáu cuối năm 1924. Bà Sáu sinh năm 1901, trong một gia đình nghèo ở xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc. 15 tuổi, bà lên Sài Gòn làm mướn cho một gia đình ở Chợ Lớn rồi tích góp vốn liếng, cùng 2 em mở tiệm may ở chợ Cầu Ông Lãnh. Gần 20 năm, bà chia sẻ ngọt bùi, chấp nhận gian nguy, chung lo việc nước cùng chồng, một tay chăm lo, nuôi dạy con cái. Ông bà có với nhau 5 mặt con, 3 trai, 2 gái, đều học hành đỗ đạt, trưởng thành. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, bà Trương Thị Sáu được bầu làm Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa 2 và khóa 3, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các khóa 1,2, và 3.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn

>>> Đón đọc Kỳ 2: : Tiếng chuông thức tỉnh đồng bào

Bình luận