Kỳ vọng “kỷ nguyên vàng” thứ hai

02/10/2017, 10:43

Kỳ vọng “kỷ nguyên vàng” thứ hai - Hội nghị cấp cao BRICS lần thứ 9 tại Hạ Môn (Trung Quốc) hồi đầu tháng 9 đã ghi thêm dấu mốc quan trọng mới trong tiến trình hợp tác của 5 nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới.

Lãnh đạo các nước BRICS thể hiện tinh thần đoàn kết. Ảnh: TL

Thành quả 10 năm vàng son

Trong bối cảnh Mỹ và phương Tây nhiều thập niên nắm giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thiết chế tài chính và tiền tệ thế giới, BRICS ra đời mang trên vai trọng trách lớn, đó là thúc đẩy thay đổi trật tự, tương quan lực lượng kinh tế - tài chính toàn cầu, vốn tồn tại nhiều chục năm qua; thúc đẩy chuyển trọng tâm tăng trưởng kinh tế toàn cầu từ Tây sang Đông.

Mục tiêu lớn nhất của BRICS là nâng cao tiếng nói, vị thế của các nước đang phát triển trong các thể chế quốc tế như: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB), cụ thể là gia tăng quyền của nhóm các nền kinh tế đang phát triển trong các quyết định về chính sách của các tổ chức này. Tăng trưởng kinh tế tại các nước phương Tây trì trệ, trái ngược sự năng động và phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế mới nổi ở phía Đông. BRICS được cho là có thể cân bằng tương quan trong nền kinh tế toàn cầu, thậm chí được kỳ vọng trở thành một “cực” mới, làm đối trọng với Mỹ và châu Âu.

Nhận định “thập niên vàng” được các thành viên BRICS đưa ra để nhấn mạnh những thành tựu hợp tác nổi bật của tổ chức này sau 10 năm hình thành và phát triển (kể từ năm 2006). Nhiều ý kiến chuyên gia thừa nhận, cơ chế hợp tác BRICS đã trải qua giai đoạn “từ không đến có”, “từ ảo đến thực” và vượt qua những hoài nghi về khả năng hợp tác thành công giữa những nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển quá khác biệt.

BRICS: Viết tắt chữ cái đầu tên tiếng Anh của 5 nền kinh tế mới nổi gồm: Brazil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa).

Thuật ngữ BRIC được chuyên gia Jim O’Neill của Goldman Sachs công bố năm 2001. Tuy nhiên, đến năm 2006, BRICS mới chính thức khởi động cơ chế hợp tác tại Hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên. Năm 2011, Nam Phi gia nhập, tên tổ chức được đổi thành BRICS.

BRICS chiếm 26% diện tích và 43% dân số thế giới; 23% GDP toàn cầu; đóng góp 50% tăng trưởng kinh tế thế giới (số liệu năm 2016).

Theo thống kê của Trung Quốc, tỷ trọng GDP của BRICS trong nền kinh tế thế giới đã tăng từ 12% năm 2006 lên 23% năm 2016; tỷ trọng tổng kim ngạch thương mại tăng từ 11% lên 16%; tỷ trọng đầu tư nước ngoài từ 7% lên 12%... Từ kinh tế, thương mại đơn thuần, cơ chế hợp tác BRICS đã được mở rộng sang lĩnh vực tài chính: Liên minh hợp tác Sở giao dịch chứng khoán BRICS được thành lập năm 2011; Thỏa thuận thanh toán nội khối bằng đồng nội tệ được thông qua năm 2012; Ngân hàng Phát triển mới (NDB) của BRICS chính thức hoạt động năm 2014, với kỳ vọng có thể làm đối trọng với WB trong lĩnh vực cấp vốn và hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển.

Thành quả hợp tác BRICS đã vượt qua phạm trù kinh tế - thương mại như mục tiêu ban đầu; BRICS đã trở thành một diễn đàn quan trọng trong quản trị toàn cầu. Trên cơ sở hợp tác kinh tế thành công, BRICS đã thông qua cơ chế đối thoại hợp tác toàn diện, thống nhất quan điểm chung về các vấn đề lớn ở khu vực và quốc tế. Việc đại diện Trung Quốc thay mặt các nước BRICS phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc hồi tháng 4/2017 đánh dấu lần đầu BRICS có phát ngôn chung chính thức về các vấn đề toàn cầu.

Vẫn có những ý kiến hoài nghi về hiệu quả hợp tác giữa các nước thành viên, cũng như vai trò của BRICS trên trường quốc tế sau một thập niên phát triển. Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự ra đời của cơ chế hợp tác BRICS là kết quả tất yếu của sự phát triển và tương quan lực lượng trong nền kinh tế toàn cầu. BRICS nay là một trong những lực lượng then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, thúc đẩy trật tự toàn cầu mới, giữ gìn hòa bình và ổn định quốc tế.

Hội nghị cấp cao BRICS lần thứ 9 diễn ra từ ngày 3 - 5/9. Ảnh: news.cn

Kỳ vọng về thập niên vàng tiếp theo

Hội nghị cấp cao BRICS lần thứ 9 diễn ra từ ngày 3 - 5/9, tại Hạ Môn (Trung Quốc) trong bối cảnh xuất hiện nhiều khó khăn và rạn nứt nội khối, cũng như tình hình quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng và phức tạp. Việc các nhà lãnh đạo BRICS vượt qua bất đồng, nhất trí thúc đẩy hợp tác, củng cố sự tin cậy chiến lược, hướng tới một “thập niên vàng” thứ hai cho BRICS cho thấy, thành công của Hội nghị Hạ Môn và nỗ lực của Trung Quốc trong vai trò chủ nhà.

Lần đầu mô hình hợp tác mới được gọi là “BRICS+” được giới thiệu tại Hội nghị Hạ Môn. Sự góp mặt và tham gia đối thoại của lãnh đạo 5 quốc gia đối tác (gồm Ai Cập, Mexico, Kenya, Tajikistan và Thái Lan) tại Hạ Môn lần này cho thấy rõ tham vọng mở rộng hợp tác, vươn tới các nền kinh tế mới nổi thuộc G20, để có thể gia tăng nguồn lực, hỗ trợ các nước đang phát triển, cụ thể là kết nối và bổ sung cho cơ chế hợp tác Nam - Nam, thông qua đầu tư, cấp vốn, thúc đẩy thương mại, hợp tác vì lợi ích chung. Với các dự án mới, BRICS muốn xây dựng hình ảnh một tổ chức của các nước đang phát triển mạnh mẽ, tham gia tích cực và chủ động vào tiến trình “quản trị toàn cầu”, gồm cả các vấn đề hòa bình, an ninh và phát triển.

Tuy nhiên, để đáp ứng được kỳ vọng, trở thành “cực” mới, đối trọng với phương Tây, BRICS vẫn còn cả chặng đường phía trước. Không quá khó để nhận ra những khác biệt lớn đang cản trở hợp tác ngay cả nội khối BRICS, chứ chưa nói tới việc nâng cao hiệu quả nỗ lực của BRICS tham gia những tiến trình toàn cầu. Về quy mô và trình độ phát triển kinh tế, sự khác biệt là quá lớn: Cả 5 nền kinh tế thành viên BRICS chiếm khoảng 23% GDP toàn cầu, nhưng riêng Trung Quốc đã chiếm 15%. Tốc độ phát triển cũng đi theo hướng ngược chiều: Nền kinh tế Trung Quốc không ngừng phình to, trong khi các nền kinh tế Nga, Brazil, Nam Phi trong vài năm qua hầu như đi ngang, thậm chí suy thoái.

Trong khi đó, phải thừa nhận thực tế rằng, dù thúc đẩy hợp tác, đề cao quy luật thị trường, tự do hóa thương mại, tài chính..., song không phải thành viên BRICS nào cũng bãi bỏ hoàn toàn chính sách bảo hộ, nhằm bảo vệ một số khu vực trọng yếu của nền kinh tế quốc gia. Các yếu tố khác biệt khiến BRICS khó khăn trong việc tìm các cơ chế nhằm thiết lập thị trường và đồng tiền chung. Ấy là chưa kể, sự khác biệt về lợi ích chiến lược, tham vọng địa chính trị, thậm chí là mâu thuẫn, có thể dẫn tới xung đột, cũng là thách thức đối với các mục tiêu hợp tác nhằm có thêm một “kỷ nguyên vàng” nữa cho BRICS.

Chu Hồng Thắng

Bình luận