Huyền ảo văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

24/02/2018, 23:49

Huyền ảo văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Dù trong hoàn cảnh nào, bối cảnh lịch sử chi phối ra sao và dù trải qua bao nhiêu biến thiên lịch sử của dân tộc, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đã tồn tại và định hình một không gian văn hóa cồng chiêng.

Liên hoan văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Kon Tum 2017. Video: Phú Cường Studio

Không gian văn hóa cồng chiêng là không gian đặc thù của đời sống văn hóa cư dân sống dọc Trường Sơn. Ở đâu họ cũng đều sử dụng vào những thời điểm đặc biệt hoặc lễ hội. Hơn thế nữa, không gian ấy còn tồn tại và hiện hữu tại các nước bè bạn, láng giềng như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Myanmar, Singapore... Cồng chiêng có mặt khắp cả vùng Đông Nam Á.

Âm nhạc cồng chiêng - một thứ ngôn ngữ bản địa riêng biệt mà khó có hình thức nào thay thế được của đồng bào Tây Nguyên. Ảnh: TL

GS, TS José Maceda của Philipines, nhà nghiên cứu nhạc cụ tầm cỡ quốc tế đã nhiều năm cất công đến nhiều vùng miền tại nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới đã phát hiện và chính thức công bố rằng, không có nơi đâu ngoài khu vực này đậm đặc dấu vết cồng chiêng.

Năm 1987, Giáo sư đã có lần đến Gia Lai - Kon Tum, khi tiếp cận và tìm hiểu với các dàn chiêng của người dân Jrai, Bahnar ông vô cùng thích thú và thừa nhận: “Có thể coi dãy Trường Sơn Việt Nam là cái nôi của văn hóa cồng chiêng. Đặc biệt chiêng của Việt Nam là loại nhạc cụ cổ xưa nhất khu vực Châu Á”. Nhìn từ phía ca từ, câu chữ trong các Trường ca, truyện kể dân gian đều rõ nét bóng dáng của cồng chiêng. Trong Trường ca Đam San có đoạn nhẹ nhàng, tha thiết:

Đánh lên!
Cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ
Đánh lên!
Cho tiếng chiêng lan qua nhà sàn
Xuống tận đất đen
Đánh lên!
Cho khỉ quên ôm chặt vào cành cây
Cho ma quỷ không làm hại người
Cho chuột sóc quên đào củ
Cho rắn nằm quay đơ...

Tiếng chiêng, tiếng cồng là tiếng nói từ trái tim đồng bào Tây Nguyên. Ảnh: TL

Đối với nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh, người bạn thân thiết như trong nhà của bà con Tây Nguyên, qua nhiều năm lăn lộn, ăn ở với họ để nghiên cứu, sưu tầm, ghi chép các phương thức thể hiện âm nhạc cồng chiêng; ông đặc biệt đánh giá cao cái thần lực của tiếng chiêng Tây Nguyên vào mùa “ăn năm, uống tháng” (tức là thời điểm tháng Mười sau khi đồng bào thu hoạch mùa màng xong, đất trời Tây Nguyên bước vào mùa khô - mùa đẹp và tiện lợi để nghỉ và tiến hành các cuộc lễ hội, vui chơi - NV). Người Xê Đăng có truyền cho nhau bài hát “Lễ ăn trâu” thể hiện hùng hồn, tính cách của mùa hội làng:

Hỡi thần núi Ngọc Kơ Ang
Hỡi thần nước Krông Pơxai
Rẫy ta rộng to mà làng chưa sướng
Hồn bắp, quỷ Gió đã cướp
Hồn lúa, thần Nước đang mang
Hỡi dân làng!
Ta hãy hội làng làm lễ ăn trâu!
Nào các chàng trai!
Ta lên rừng chặt cây
Nào các cô gái!
Ta lên núi bứt dây
Cả làng góp sức chung tay
Ra công ta dựng cây cang (cột cúng thần) tuyệt vời
Dựng cho thẳng, đến trời phải thấy!
Dựng cho đẹp, đến quỷ phải hay?...

Và sau đó trầm hùng hơn của âm thanh dội vào đá núi, bay vào mặt đất thẩm sâu:

Chiêng ơi!
Trống hỡi!
Hãy vang lên đến chín tầng mây biếc
Hãy rền xa đến tận trời xanh
Cho ông trăng xuống nhanh cùng dân làng uống rượu
Cho nàng biển tới cùng tề tựu ăn trâu
Tiết trâu đã xoa lên đầu
Cầu cho dân làng sống lâu mạnh khỏe
Hồn trâu đã ghé khắp nơi
Cầu cho đầy chòi lúa ngô.
(trích từ tập Dân ca Tây Nguyên)

Dòng nhạc chiêng của lễ hội Đâm Trâu, hay của lễ Pơ Thi đều có lời hát khác nhau và đúng nghi lễ đi theo vang lừng cùng nhịp múa xoang của đám con trai, con gái trong làng. Không gian nhạc chiêng ấy có cái rất riêng của từng vùng miền dân tộc bản địa khác nhau. Chẳng hạn nhạc chiêng sử dụng của các dân tộc phía Bắc như Mường, Thái đến dân tộc Vân Kiều ở miền Trung, đến dân tộc Chăm, Khơ me ở miền Nam và cộng đồng người Jrai, Bahnar, Ê Đê, H Mông, Xê Đăng, Jẻ Triêng... ở Tây Nguyên./.

Lê Bá Tuế

Bình luận