Đại tá Khưu Ngọc Bảy: “Tôi chỉ là một nhân chứng của đường Hồ Chí Minh trên biển”

14/02/2017, 10:21

Đại tá Khưu Ngọc Bảy: “Tôi chỉ là một nhân chứng của đường Hồ Chí Minh trên biển” - Đại tá Khưu Ngọc Bảy từng là “mắt xích” trọng yếu để tiếp vận vũ khí từ những chuyến tàu không số tuyệt mật, an toàn, hiệu quả, nhưng khi trò chuyện với chúng tôi, ông thật khiêm nhường.

Những con tàu không số trên đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Ảnh: TL

Chiến thắng của lòng dân

Bắt đầu câu chuyện, ông nói với tôi thật giản dị: “Đừng gọi chú là anh hùng hay người góp phần tạo dựng đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại. Hãy chỉ đơn giản gọi chú là một nhân chứng của con đường “vô tiền khoáng hậu” trên thế giới, con đường của ý chí và sự sáng tạo Việt Nam”. Rồi ông ông kể, giúp chúng tôi hình dung phần nào sự khốc liệt, hào hùng của một thời.

Theo Đại tá Khưu Ngọc Bảy, để làm nên đường Hồ Chí Minh trên biển ngoài sự mưu trí, dũng cảm của những thủy thủ lái Tàu không số còn là sự đóng góp sức lực, máu xương của các lực lượng khác, trong đó có các bến tiếp vận. Đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy đầu tiên của Đoàn 759 chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) vào Cà Mau. Ngày 19/10/1962, tàu cập bến Vàm Lũng an toàn, toàn bộ vũ khí được cơ sở tiếp nhận đúng kế hoạch. Đó là dấu mốc tiếp nhận, chi viện vũ khí an toàn đầu tiên của Đoàn 962 anh hùng - đơn vị sau này Đại tá Khưu Ngọc Bảy là Đoàn trưởng. Ngày đó, Đoàn 962 tiếp nhận vũ khí từ các đoàn Tàu không số tại 4 bến: Vàm Lũng (Cà Mau), Trà Vinh, Bến Tre và Bà Rịa Vũng Tàu. Các bến này tùy vào vị trí sẽ tiếp vận vũ khí tới các Quân Khu 7, Quân Khu 8 và Quân Khu 9.

Trở lại với những ngày tháng chiến đấu gian khổ mà anh dũng, Đại tá Khưu Ngọc Bảy nói: “Chiến thắng của đường Hồ Chí Minh trên biển là chiến thắng của lòng dân. Đoàn 962 và nhân dân Vàm Lũng gắn bó như anh em một nhà. Có lần để làm bãi tiếp nhận vũ khí, phải di dời 800 hộ dân từ ven biển vào trong rừng, nhân dân đều ủng hộ. Trong quá trình hoạt động, bộ đội Đoàn 962 cùng chia với dân từng bát cơm, từng tấm áo. Sự gắn bó khăng khít này tạo nên thế trận lòng dân vững chắc.

Ông kể: “Sự khốc liệt của chiến tranh mỗi nơi mỗi vẻ, nhưng đều là sự hy sinh tuổi trẻ, xương máu của bao người. Nhiệm vụ của cán bộ tham mưu thời đó là thông báo luồng tàu ra, tàu vào, quan sát, xử lý tình huống nếu tàu gặp tàu địch trong điều kiện thiếu thốn về phương tiện. Vùng Vàm Lũng là nơi đầm lầy chỉ có cây đước, cây tràm. Để quan sát được luồng ra luồng vào, bộ đội phải trèo lên ngọn cây. Tàu không số luôn vận chuyển trong đêm. Giữa đêm tối mịt mùng, lội nước bì bõm nhưng phải sử dụng ánh sáng yếu nhất để tránh sự quan sát của địch. Để trèo lên được cây, cũng phải tìm những mấu cây tự nhiên hoặc đóng đinh thật nhỏ.

Ngày đó, phương tiện liên lạc, nhận diện tàu ta, tàu địch không có. Tất cả đều phải tín hiệu và suy luận logic. Chẳng hạn, để nhận ra tàu ta, thì việc bắn tín hiệu là tổng 7. Tùy vào từng hôm, quy định trên bờ bắn 3 cái, dưới tàu bắn 4 cái. Khi 2 tín hiệu khớp nhau thì đó là tàu của mình”. Cứ như thế, từ Vàm Lũng đã chuyển tới Quân khu 9 khoảng 7.000 tấn vũ khí. Riêng Đoàn 962, đã có 710 chiến sĩ hy sinh khi tham gia tiếp vận.

Ký ức Tàu không số thành thơ

Trong những năm tháng làm chiến đấu khốc liệt tại chiến trường Vàm Lũng, Đại tá Khưu Ngọc Bảy đã ghi lại những vần thơ giản dị nhất về cuộc sống quanh mình, nhưng đó chỉ như một cách giãi bày tâm trạng, như một trang nhật ký. Khi nghỉ hưu, những ký ức của một thời trận mạc hào hùng trở đi trở lại và ông đã chọn thơ để nói về lịch sử.

Ông cười và kể: “Khi bắt đầu viết trường ca Bến Cảng lòng dân, chú chọn lối viết trường ca. Lúc đó nghiền ngẫm, nghiên cứu trường ca của các nhà thơ nổi tiếng như Thu Bồn, Hữu Thỉnh thấy choáng ngợp và đuối sức. Rồi chú viết thơ tự nhiên như chính tiếng nói của mình, của những người lính”.

Trong thơ ông là những địa danh quen thuộc, là niềm tin, là đau đáu những hy sinh, mất mát, những đợi chờ:

“Những con tàu vượt qua sóng dữ
Sẽ yên lòng khi cập bến quê hương”
“Anh đắp lên giữa rừng những nấm mộ vô danh
Trên bùn nhão viết tên đồng đội
Trong bùn nhão mặn tê đầu lưỡi
Ngỡ có máu bạn bè chảy về tận nơi đây”.

Hay

“Đồng đội ơi Rạch Gốc còn đợi đấy
Dù đi đâu xin một chuyến quay về”.

Chuyện của người lính Tàu không số năm nào toát lên sự hào hùng, gian khổ, hy sinh mà không hề bi lụy. Ông giải thích với chúng tôi tỉ mỉ về ngày tháng đã qua với trạng thái trầm tĩnh và vì chúng tôi thực sự muốn lắng nghe. Ông nói, mỗi thời mỗi khác. Thời nào có anh hùng của thời đó. Thế hệ trẻ có người muốn tìm hiểu về chiến tranh nhưng có người chọn những niềm vui khác. Vì thế, hãy để lớp trẻ biết trân trọng quá khứ, nhưng viết nên hiện tại và tương lai bằng cảm nhận thôi thúc của chính trái tim mình./.

Nguyễn Minh Thu

Bình luận