Đặc trưng trong truyền thông vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

18/10/2019, 09:35

Đặc trưng trong truyền thông vùng dân tộc thiểu số Việt Nam - Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú tập trung chủ yếu ở vùng miền núi và biên giới - nơi có vị trí quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng... của đất nước, tuy nhiên đời sống kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn.

Vấn đề truyền thông cho dân tộc thiểu số

Trên cơ sở cách hiểu về truyền thông nói chung, truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số có thể hiểu là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, kỹ năng và kinh nghiệm đối với người dân tộc thiểu số nhằm thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi của người dân tộc thiểu số phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội, hỗ trợ thúc đẩy các dân tộc thiểu số xóa đói, giảm nghèo, hướng tới phát triển bền vững.

Nhằm thay đổi nhận thức để điều chỉnh hành vi của người dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội, người làm công tác truyền thông bằng kiến thức nghiệp vụ và chuyên môn, hiểu biết của mình sẽ sử dụng các phương thức truyền thông phù hợp. Hiện nay, có hai hình thức truyền thông chủ yếu là truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp.

Truyền thông trực tiếp là quá trình trao đổi thông tin một cách trực tiếp giữa người làm truyền thông với một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng, thông qua các giao tiếp không lời hoặc có lời, thông qua các cách thức như thăm hộ gia đình, tư vấn, thảo luận nhóm, tổ chức họp, sản xuất và tổ chức biểu diễn tiểu phẩm sân khấu, tổ chức thông tin lưu động tại chợ phiên, bản làng...

Truyền thông gián tiếp là quá trình truyền đạt thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại như: báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, sách, điện thoại, phim và băng, đĩa hình...

Để truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số thành công cần có sự phối hợp của cả người truyền thông và người nhận thông điệp truyền thông - các dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số - thông qua việc thực hiện đầy đủ các bước của quá trình truyền thông bao gồm: Truyền thông điệp đến người nhận; Thu hút sự chú ý của người nhận thông điệp; Duy trì sự chú ý của người nhận; Người nhận hiểu được thông điệp; Người nhận ghi nhớ được thông điệp; Người nhận sử dụng được thông điệp.

Hiệu quả của công tác truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số phụ thuộc vào nhiều yếu tố như yếu tố chính trị, đặc điểm của đối tượng truyền thông, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, văn hóa truyền thống dân tộc, yếu tố tôn giáo... Trong đó, có thể khẳng định một trong những yếu tố có vai trò quan trọng, cần tính đến trong công tác truyền thông là đặc điểm của đối tượng truyền thông - người dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số.

Vấn đề đặt ra

Hiện nay, Chính phủ đã và đang triển khai nhiều Chính sách về phát triển thông tin, truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, chẳng hạn: Quyết định số 1212/QĐTTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2012 - 2015; Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 4/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày 8/8/2017 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2021”. Mặc dù được sự quan tâm đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước, song đến nay, khoảng cách thụ hưởng thông tin văn hóa giữa miền xuôi và miền núi, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn khá xa.

Một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng hiệu quả truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số là những đặc điểm, đặc trưng riêng biệt của các dân tộc thiểu số với tư cách là khách thể của hoạt động truyền thông. Những đặc điểm, đặc trưng đó thể hiện cụ thể trên các phương diện sau:

Một là, phần lớn cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau, không tập trung tại một địa bàn cụ thể. Theo số liệu thống kê, tại Việt Nam không có tỉnh, huyện nào thuần nhất có một dân tộc cư trú (ở khu vực miền núi phía Bắc chỉ có 2,8% số xã có một dân tộc sinh sống).

Trong khi đó, cộng đồng dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ ở nhiều địa phương khác nhau như người Dao ở 17 tỉnh, người Mông ở 13 tỉnh, người Tày ở 11 tỉnh, người Thái ở 8 tỉnh... Cộng đồng dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú dọc biên giới phía Bắc, Tây và Tây Nam có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới - đây là những địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, môi trường sinh thái của đất nước.

Đời sống người dân ở đây còn nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn diễn biến phức tạp, trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều kiện sống và mức sống còn chênh lệch giữa các dân tộc. Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn tới công tác truyền thông vùng dân tộc thiểu số.

Để đưa được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và các thông tin phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số, công tác truyền thông dân tộc cần đầu tư thích đáng nguồn nhân lực, vật lực với các phương thức truyền thông hiệu quả phù hợp với đặc thù của từng địa phương, từng cộng đồng dân tộc thiểu số.

Hai là, theo số liệu thống kê được Ủy ban Dân tộc và Cơ quan Phát triển Liên hợp quốc công bố vào ngày 26/4/2017 tại hội thảo “Thúc đẩy phát triển dân tộc thiểu số - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, có tới 21,8% tỷ lệ người dân tộc thiểu số chưa biết đọc, viết tiếng phổ thông. Như vậy, nếu mỗi năm giảm 1,2% tỷ lệ xóa mù thì có dân tộc phải mất tới 25 năm mới xóa mù. Trước thực trạng đáng báo động trên, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nhằm tạo chuyển biến về kinh tế xã hội rõ rệt hơn trong phát triển kinh tế, văn hóa ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Với tỷ lệ người dân tộc thiểu số chưa đọc thông, viết thạo, cá biệt nhiều trường hợp chưa biết đọc, viết tiếng phổ thông, đặt ra yêu cầu công tác truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số bằng tiếng dân tộc là một lợi thế. Thực tế cho thấy, phương thức truyền thông trực tiếp tại cộng đồng như: thăm hộ gia đình, tư vấn, thảo luận nhóm, tổ chức họp, sản xuất và tổ chức biểu diễn tiểu phẩm sân khấu, tổ chức sự kiện cụ thể như thông tin lưu động tại chợ phiên, bản làng... đối thoại ở vùng dân tộc là phù hợp và hiệu quả hơn so với truyền thông gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, mạng xã hội để truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số.

Ba là, các dân tộc thiểu số Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Tổ chức xã hội truyền thống ở mỗi dân tộc có những sắc thái riêng; mỗi thôn, bản, buôn, phum, sóc được các hộ dân cư trú quây quần bên nhau theo dòng họ huyết thống hoặc do hôn nhân hợp thành.

Để đạt được hiệu quả trong công tác truyền thông vùng dân tộc thiểu số, một trong những kiến thức, kỹ năng cơ bản của người làm truyền thông là phải am hiểu văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc, từ đó có kỹ năng trong giao tiếp và làm việc với cộng đồng dân tộc thiểu số để nhóm đối tượng hiểu, chú ý lắng nghe và truyền tải thông điệp tới đối tượng - người dân tộc thiểu số. Như vậy, việc hiểu và tận dụng được lợi thế về truyền thống văn hóa, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, quan hệ xã hội của mỗi dân tộc thì truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

Bốn là, một đặc điểm khá nổi trội trong các cộng đồng dân tộc thiểu số, đó là tính gắn kết cộng đồng cao và vai trò dẫn dắt, then chốt của những người tiên phong, người có uy tín. Hơn thế nữa, người dân tộc thiểu số thường có tâm lý tự ti, bảo thủ, mẫn cảm, không dễ tiếp nhận cái mới, vì vậy, để tạo nên sự thay đổi về nhận thức và hành vi trong cộng đồng dân tộc thiểu số cần một khoảng thời gian nhất định, cần được tiến hành từng bước, tạo cơ hội để người dân kiểm chứng và học hỏi từ thực tế.

Trong truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, việc phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông rõ rệt. Người có uy tín trong cộng đồng thiểu số có thể là già làng, trưởng bản, trưởng thôn. Tuy nhiên, cần lưu ý: Mỗi cộng đồng có một loại người uy tín khác nhau, không phải cứ già làng, trưởng bản là có uy tín, ví dụ, vùng người Dao thì người có uy tín là thầy cúng; vùng người Mông người có uy tín thường là ông trưởng dòng họ; vùng người Khmer người có uy tín là nhà sư(1) . Đây là phương thức truyền thông trực tiếp có tiềm năng lớn trong việc thay đổi thái độ của người dân tộc thiểu số, giúp lan tỏa các thông điệp truyền thông.

Bên cạnh đó với tính gắn kết cộng đồng cao, các phương thức truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số cần mang đặc trưng thôn bản, dựa trên sự tôn trọng đa dạng văn hóa và sự tham gia tích cực của người dân, tạo dư luận xã hội thay đổi nhận thức và hành vi cá nhân. Để truyền thông hiệu quả cần thông qua các kênh khác nhau, từ người tiên phong đến các thành viên khác thông qua mối liên hệ gia đình, dòng họ, sinh hoạt cộng đồng cũng như tất cả lực lượng truyền thông. Trên cơ sở đó, các cá nhân người dân tộc thiểu số dễ bị ảnh hưởng từ dư luận và giao tiếp xã hội, mang lại hiệu quả trong việc truyền thông điệp đến các đối tượng - người dân tộc thiểu số.

Năm là, thiếu thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin vẫn là tình trạng khá phổ biến ở vùng dân tộc. Theo số liệu điều tra, các chỉ tiêu kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số Việt Nam do Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê vừa thực hiện cho thấy 21% số người dân tộc thiểu số độ tuổi 15 trở lên không biết đọc, biết viết và không hiểu được 1 câu đơn giản của tiếng Việt.

Với điều kiện ngôn ngữ bất cập, họ không thể nghe được tiếng Việt, mà toàn bộ thông tin chủ yếu bằng tiếng Việt, vậy làm thế nào mà thông tin đến được với người dân tộc thiểu số?

Đáng chú ý, người mù chữ ở nhiều dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, đồng nghĩa với việc một số lượng lớn bà con không thể tiếp cận thông tin từ đọc. Vậy là thông tin chỉ đến với bà con qua phát thanh, truyền hình, qua tuyên truyền miệng của cán bộ trong các buổi tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn...

Song, thực tế trong nhiều năm qua, không chỉ truyền thông trên các phương tiện nghe - nhìn, mà cả tuyên truyền trực tiếp vẫn chưa mang lại hiệu quả nhiều cho người dân tộc thiểu số. Vì vậy, cần đẩy mạnh truyền thông, đưa thông tin mạnh mẽ về cơ sở, thúc đẩy tiếp cận bình đẳng về thông tin, thúc đẩy sự trao quyền cho các cộng đồng thiểu số, giúp họ chủ động, tích cực tham gia vào các chương trình phát triển.

Thực tế cho thấy, bên cạnh những vùng dân tộc thiểu số còn thiếu thông tin và cơ hội tiếp nhận thông tin, hiện nay ở một số vùng dân tộc thiểu số, du lịch phát triển mạnh, Internet, mạng xã hội khá phổ biến. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với công tác truyền thông là bên cạnh truyền thông trực tiếp, cần linh hoạt sử dụng các phương thức truyền thông gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, công nghệ thông tin mới. Đối với các vùng dân tộc thiểu số có sự phát triển cao về kinh tế, xã hội, phương thức này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động truyền thông.

Như vậy, trên cơ sở đặc điểm của dân tộc thiểu số ở từng vùng, từng địa phương, công tác truyền thông cần có cách tiếp cận cũng như phương thức truyền thông với những đặc thù riêng trên cơ sở tôn trọng, vận dụng và phát huy đa dạng văn hóa, tri thức bản địa và giá trị đặc sắc của từng tộc người nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số, thúc đẩy sự phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và của toàn xã hội.

TS Cao Thị Dung

Tài liệu tham khảo
(1) Đài Tiếng nói Việt Nam (2015), Sổ tay truyền thông dân tộc, Hà Nội.

Bình luận