Chúng tớ từng là sinh viên trường báo

18/05/2017, 18:50

Chúng tớ từng là sinh viên trường báo - Cuối năm 1979, tôi tốt nghiệp Khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp TP HCM. Chưa kịp về đơn vị nào công tác thì biết mình có tên trong danh sách 13 người của trường ra học tiếp Khoa Báo chí - Xuất bản tại trường Tuyên huấn Trung ương Hà Nội.

Họ đã từng là sinh viên trường Báo. Ảnh: NVCC

Tôi nhận lời và lên đường ngay. Trường Tuyên huấn trong mắt tôi quá đẹp. Yên tĩnh. Xanh tươi. Cơ sở hạ tầng loại ngon lành chắc chỉ sau Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc gần đó. 

Đây là lần đầu tiên trường mở lớp đào tạo báo chí cho sinh viên đã tốt nghiệp một đại học. Cho nên cái cụm từ "lần đầu tiên" ấy gián tiếp đem lại nhiều thay đổi về "lượng và chất" trong sinh hoạt rất nghiêm cẩn của trường. Có nghĩa là việc thực thi kỷ luật có nhiều khâu xé rào hơn. Việc ra vào, việc tiếp khách trong trường, việc cắm sổ ghi nợ ngoài quán, việc tấn công sang các khoa ngoại ngữ trường sư phạm láng giềng, việc nấu ăn trong trường, rồi phong trào nhậu nhẹt, các nhóm đồng hương, nhóm sáng tác, nhóm thể thao, nhóm văn nghệ dần dần hình thành...

Tất nhiên không khí trong trường cũng nhiều thay đổi. Phần lý thuyết màu xám có nghiêng về phần cây đời mãi mãi xanh tươi hơn. Màu áo đại cán và áo lính cũng bớt dần để thêm vào những màu sắc trang phục tươi trẻ của đám sinh viên từ nước ngoài về, từ trong Nam ra, từ các lớp học sinh vừa đủ tuổi cấp CMND khắp đất nước hội tụ...

Mỗi người một tính một nết nên lúc đầu bị gò vào kỷ luật trường Đảng cũng nhiều người lăn tăn. Tôi là người thể hiện cái sự khó chịu ấy ra mặt. Buổi sáng rét tê tái mà chi trưởng tốc mùng khua từng thằng dậy. Giờ tự học phải ngồi vào ...giường (chứ làm gì có bàn) ngắm đắm đuối mấy cuốn giáo trình màu xanh lá chuối dịch từ tài liệu Liên Xô, Trung Quốc từ những năm 1950.

Giờ lên lớp là phải đủ mặt điểm danh như lính. Tôi hay bỏ cơm đi chơi cũng bị phê bình. Mà suất cơm tuyên giáo lúc đó có nhỉnh hơn suất cơm các em trường láng giềng nhưng cũng là những cái bánh bao ném nhau được, cũng canh đại dương mà muốn ăn phải có nghệ thuật "thọc sâu, cào nhẹ, vớt từ từ" mới xong.

Nhà ăn lúc đó phía cổng chính đường Xuân Thủy bây giờ. Cứ đến giờ ăn là xuất hiện một đội hình học viên gõ bát (lúc đó gọi là bo B52). Âm thanh gõ bát đũa của đội hình vừa chờ nhà ăn mở cửa vừa làm khán giả xem các trận bóng gôn tôm ở sân bóng trước nhà ăn tôi còn nhớ mãi vì nghe như dàn nhạc gõ nghe rất vui tai (Sân bóng ngày ấy là khoảng sân dẫn vào toà nhà chính ở phía cổng đường Xuân Thủy).

Buổi tối, các học viên ưu tú thường lên hội trường xem tivi. Còn các cặp đôi chưa ưu tú thì hoặc kẹp tay nhau đi lòng vòng sân bóng hoặc đến khuya chạy bộ kéo xà đơn bình bịch ngoài các lối đi thiếu điện. Tôi nhớ một cặp đôi lúc đó bị Chi đoàn kiểm điểm vì cái tội không chịu tự học mà ôm nhau đi lòng vòng. Đã thế khi bị kiểm điểm, chàng còn phán một câu xanh rờn: "Vẽ chuyện! Mèo trắng hay mèo đen cứ bắt chuột là được". Cái bạn bị chi đoàn kiểm điểm ấy về sau làm to nhất lớp.

Nhân đây cũng nói thêm cái Chi 1 của lớp chúng tôi có nhiều người sau này lên làm Sếp nhất. Có anh Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân (Thịnh Giang), anh Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản (Tất Thắng) vài anh chị khác làm cán bộ chủ chốt ở các cơ quan báo Đảng (Vương Dứa, Xuân Thâu, Lê Tiền Tuyến, Trần Anh Tú...) hay giảng dạy ở ngay Khoa Báo chí trường mình (Thầy Nhiệm, Cô Thoa, Cô Chính). Còn chi 2 và chi 3 thần thánh của chúng tôi thì ít Sếp hơn, ra trường làm việc cỡ nhàng nhàng hơn, khiêm tốn hơn các bạn Chi 1. Nhưng cũng rất tự hào là các anh chị đều là các cán bộ chủ chốt hoặc là cây bút chủ lực của các đơn vị lúc ra trường. Rất tiếc cũng có một số anh chị rẽ sang nghề khác nhưng chỉ là số ít, có lẽ xác suất theo nghề báo chí của lớp Báo 4 thuộc top cao của trường. 

Giờ điểm lại cũng thấy lớp Báo 4 rất nhiều kỷ niệm vui buồn khó quên. Tôi rất nhớ những lần đi thực tập về các địa phương và các báo đài. Lớp tôi toàn dân đã tốt nghiệp một trường đại học mà về các báo lại được kèm cặp hướng dẫn nghiệp vụ bởi các "em" nhà báo vừa ít tuổi hơn vừa chưa tốt nghiệp đại học báo chí, có lần qua một đợt nộp bài các anh trong Ban Biên tập báo tỉnh nọ còn kêu ầm lên là "viết được thế này mà còn thực tập gì nữa"...

Hồi chúng tôi học cứ mỗi năm là mỗi đi thực tập về các báo, điều này rất cần thiết mà hình như các lớp bây giờ chưa được thực tập nhiều như vậy. Và khi chúng tôi học thì chưa có nhiều giảng viên chuyên nghiệp mang đầy học hàm bằng cấp như bây giờ. Thầy Nguyễn Văn Dững vừa tốt nghiệp đã ở lại làm phụ trách lớp chúng tôi. Các giảng viên thỉnh giảng tuy ít nhưng vượt trên mong đợi của chúng tôi là các nhà báo Hữu Thọ, Phan Quang, Trần Minh Tân...Còn các thầy dạy các bộ môn của trường như thầy Trần Bá Lạn, thầy Khang, thầy Trúc (dạy môn ảnh) thì cũng đầy những kỷ niệm gắn bó thân thương mà chúng tôi không thể nào quên được.

Lúc đó phương tiện và điều kiện học tập còn nghèo chứ đâu được mỗi sinh viên có một laptop và điện thoại di động cũng như máy ảnh kỹ thuật số như bây giờ. Mỗi khi đi thực tập là mấy đứa chúng tôi xài chung một máy Kiep của Nga hay máy Pratika của Đức mượn của trường. Thầy Trúc dạy ảnh lại hơi nặng tai nên mỗi khi thầy trò trao đổi phải viết ra giấy. Tôi nhớ lúc đó học ảnh xong một học viên là anh Sơn ở Hải Phòng về khoe về quê chụp ảnh bố vợ trước giàn bầu mà khi rửa ảnh xong chỉ thấy mấy...trái bầu mà không thấy hình bố vợ đâu cả. 

Thêm kỷ niệm lớp Báo 4 là lúc đi học nhiều anh đã lớn tuổi, đã có gia đình nên xin ngoại trú, cứ tối đến là đạp xe về với vợ trước ánh mắt thèm thuồng của bao thằng "ăn cơm tập thể ngủ giường cá nhân". Cũng có mấy anh mang cả con nhỏ vào ở chung và điều thú vị là có cháu sau này cũng trở thành nhà báo (như con anh Thái ngụ chi 3, lính xe tăng, Chủ tịch Hội Nhà báo Hà Tĩnh) 

Vì là lớp đã tốt nghiệp một đại học nên lớp Báo 4 được lược bớt một số môn, và chỉ học có hơn ba năm là ra trường. Và chỉ ba năm ấy nhưng cũng biết bao nhiêu tình. Có năm bảy đôi thành vợ thành chồng. Có mấy đôi "tình trong như đã mặt ngoài còn e". Cũng có mấy đôi chia tay một thời "ghế đá công viên, dời ra đường phố" để quay về với mối tình "nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn"... Và "ba năm là bấy nhiêu ngày" mà nhiều nàng sinh viên bên Đại học Sư phạm láng giềng Cầu Giấy đã "bằng lòng đi em về với quê anh" chịu về làm dâu các gia đình báo chí...

Còn riêng tôi, người đang quay ngược kim đồng hồ hoài niệm viết những lại những ký ức thoảng thơm mùi đèn dầu và đầy sương mù gió bấc một thời đèn sách đất Hà Thành này, cũng nôn nao nhớ căn phòng nhỏ của chi 2 với mọi giọng nói mọi kiểu cười và trăm cách lý sự của gần hai chục con người mọi miền quê lúc đó.

Nếu không có cái thời gian cọ xát, va vấp, thử lửa thử bút thời đó, dễ gì chúng tôi có được những hành trang vào đời vững vàng sau này. Kiến thức, kinh nghiệm, sự đam mê, tình yêu quê hương đất nước và sự trung thành với con đường mình đã chọn, đôi khi chỉ là bắt đầu từ những câu chuyện đời thường của những mái tóc bạc người thầy, gương mặt khắc khổ người bạn, nụ cười thân thương của ai đó chung một mái trường mà không rõ ta đã gặp trong bữa gõ bát đũa chờ cơm hay những buổi tranh luận đầy lý thuyết  màu xám một thời nữa. 

Hồi đó tôi nhớ mình còn làm một vài câu thơ đăng báo tường, chỉ nhớ mấy câu thôi: 

"Em đi qua trường anh
Có thấy trường anh chân tường bụi đỏ
Lối đi trong vườn rất nhỏ
Và vòm cây rất cao
Mặt trời mọc ngay trước cổng ra vào
Mặt trăng cũng nhô lên từ đấy
Có đi qua rồi em sẽ thấy
Sân trường, cây cối, lối đi...
Có hương cốm làng Vòng tỏa ra thơm ngát
Chén nước trà hai hào đậm chát
Hôm nay em không đến rồi..."

( Bài này do anh Hoàng Cầu, lớp Báo 3, sau này là Trưởng đại diện Đài Tiếng nói Việt Nam tại khu vực Tây Bắc còn thuộc nên chép lại hộ) 

Viết đến đây tôi lại cồn cào nhớ kỷ niệm ngày ấy... Nhớ mãi buổi học mà tôi mải vẽ chân dung một bạn gái trong lớp bị thầy gọi đứng lên hỏi: "Hoàn cảnh có vấn đề là gì?" Tôi đã trả lời luôn: "Hoàn cảnh có vấn đề là hoàn cảnh như em lúc này" làm cả lớp cười ồ. Nhớ mãi những lần đi "dụ" các em sinh viên trường trung cấp du lịch gần đó làm người mẫu cho cả bọn chụp ảnh chân dung. Chụp xong đãi mấy em uống nước chanh đá mà thằng nào cũng méo mặt vì mỗi em quất tới hai ly.

Nhớ những buổi chơi bóng xong phải cúi gập người dốc đầu vào bể nước múc nước rửa chân. Nhớ cả lần giả vờ ốm nhờ anh Tựu bác sĩ chứng nhận cảm cúm để nằm trạm xá trốn học. Nhớ những buổi thứ Bảy cả bọn lại nôn nao "cắt cơm bơm xe, nghe thời tiết, liếc đồng hồ" để  hẹn hò nhau lượn phố. Nhớ cái con đê và cánh đồng nhìn ra chùa Hà trước trường đêm nào cũng dập dìu các đôi tuyên giáo, mỗi khi đi chơi bờ đê, bờ ruộng về lại phải kiểm tra xem chân có bị đỉa cắn không?  Nhớ những đêm giá lạnh trùm mền lấy vali làm bàn chong đèn làm thơ viết truyện. Nhớ cái bếp điện hai ngày sửa một lần mà vẫn nấu nấu nướng nướng khét lẹt cả xóm. Nhớ cái nồi cơm độn lạc (đậu phộng) nhỏ xíu mà thơm lừng nửa đêm làm hai thằng nằm giường bên không sao ngủ được cứ đi tới đi lui rồi lấy hết can đảm mở miệng nói: "Cho tao xin một tíu, đói quá "...

Học hành gian khổ vậy rồi cũng tốt nghiệp ra trường thành nhà báo ngon lành. Hình như càng khó khăn càng dễ nung nấu ý chí theo đuổi nghề báo mình chọn. Giống như thao trường càng đổ mồ hôi thì chiến trường càng bớt đổ máu vậy thôi. 

Mấy chục năm sau, tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội họp lớp, đã thấy xe biển số xanh đậu kín sân. Đã nhiều người lên chức ông nội và ngoại. Ký tên tặng sách nhau mỏi tay. Chụp hình quay phim tá lả bằng đủ thứ máy, tiền tính toàn bằng đô. Người còn, người mất. Kẻ đó người đây. Vui buồn cũng chỉ là kỷ niệm. Lại mày tao nhắng nhít như thời nhét cuốn tập túi quần lên lớp. Họp lớp lại cãi nhau tếu táo nhưng cũng không quên lập quỹ lớp giúp các bạn khó khăn. Nâng vội ly rượu với nhau rồi lại tất bật về duyệt bài trực sóng. 

Học chỉ hơn ba năm mà giờ kể lại mấy chương hồi cũng không hết kỷ niệm. Cái nghề báo nó thế. Cái đời làm báo nó thế. Đầy vui buồn nhưng cũng rất đỗi tự hào. 

Tôi nhớ có lần họp lớp xong ra sân trường tụ tập choàng vai chụp hình, nhờ mấy cháu sinh viên báo chí đời 9X thơm như mít chụp ảnh, các cháu biết chuyện các bác họp lớp, cứ tròn mắt reo ầm lên: 

Ơ thế hồi xưa các bác cũng học báo chí à? 
Thế là các bác "U60" được dịp hãnh diện trả lời: 
Ừ, "chúng tớ" cũng từng là sinh viên trường Báo.  
Một thời để yêu một thời để nhớ

Sau khi viết đến đây, tôi bỗng thấy nôn nao như thể mới ngày nào nhập học. Tôi lại nổi cơn ôn cố tri tân và lần này hứa sẽ viết nghiêm túc hơn về cái thời "ăn như tu, ở như tù, nói như lãnh tụ" Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, tức cảnh sinh tình,  tôi còn làm hai câu thơ bi thương: "Một ngày hai bữa cơm mì. Ba năm tuyên huấn còn gì là Nhân". Là nói đùa vậy thôi, chứ hồi ấy được thế là oách rồi ) ...

Những năm tháng không thể nào quên của lớp Báo 4. Ảnh: NVCC

Những năm tháng không quên

Hồi ấy vào lớp chưa mấy ai biết ai, mọi người như "những dòng suối nhỏ theo sông về với biển" (lời bài Người xây hồ Kẻ Gỗ) cứ "vừa chạy vừa xếp hàng" vì mới đào tạo mô hình đã tốt nghiệp một đại học lần đầu tiên. Chi 2 lớp Báo 4 của tôi có lẽ là tâm điểm của lớp vừa nghĩa đen, vừa nghĩa bóng. Anh Lê Hữu Quý làm Chi trưởng, anh người Hà Tĩnh, lúc đầu còn gò chúng tôi vào nề nếp như yêu cầu của trường, nhưng nhiều đứa trong chi 2 vốn là sinh viên mải chơi chứ không phải cán bộ hay lính về học như anh nên rồi đâu lại vào đấy.

Nhưng qua mấy đợt đi thực tập thực tế thực địa gì đó, cả bọn lại rất gắn kết với nhau. Nhớ cái lần đi thực tập báo Nghĩa Bình, mấy đứa nhóm thực tập nghĩ ra trò mua bột mì, chở tàu Thống Nhất về Quy Nhơn bán lại kiếm lời, cũng đủ tiền cơm một tháng, sau mấy tuần viết bài toàn được đăng báo Xuân, nhuận bút cũng đủ để bao mấy em trường Đại học Quy Nhơn ăn chè.

Lần thứ hai đi thực tập báo Thái Bình, cả bọn đi bằng tàu trên sông Hồng rất thi vị. Về Thái Bình cũng lao vào viết như điên mà vẫn nghèo mạt. Đúng lúc ấy có đoàn xiếc Trung ương về diễn, vé chợ đen không có mà mua, thế là mấy thằng nghĩ cách "phe" vé, xin giấy giới thiệu của báo ra mua vé bán lại kiếm lời. Mấy anh báo Thái Bình biết cũng xí xoá cho mấy đứa em đi học xa nhà.

Lần thứ ba nhóm tôi thực tập ở báo Tiền Phong, được gặp gỡ nhiều nhà báo nổi tiếng, độ khó của bài vở cũng cao hơn, nhưng mấy đứa đều viết vượt chỉ tiêu. Lần thực tập này tôi được tung đi viết về công trình thủy điện sông Đà trong sự kiện lịch sử lấp dòng ngăn sông. Một bài khác đăng báo Tiền Phong số Xuân là về một anh phi công về quê nhà Hưng Yên làm công tác Đoàn.

Đợt thực tập này, tôi cày khỏe, còn dư bài chạy sô cho báo khác. Đây là đợt thực tập cuối trước khi ra trường nên nhóm tôi đã cày như phóng viên thực thụ. Sau đó báo Tiền Phong và hai tờ báo khác đã có ý nhận tôi về làm phóng viên chính thức nhưng tôi lại chọn về Tuổi Trẻ để được gần nhà. Sau các đợt thực tập này tôi rút ra kinh nghiệm xương máu rằng học báo chí thì phải viết nhiều, giao tiếp nhiều, chọn cho mình những cái mốc cao một chút để phấn đấu vượt qua, và mục đích là trước sau như một, thủy chung với con đường mình đã chọn. Ngay những năm còn học ở Tổng Hợp Văn và sau đó là học ở Báo 4 Trường Tuyên giáo Trung ương tôi đã viết cộng tác với nhiều báo.

Và cũng tại cái phòng chi 2 dưới hàng cây cổ thụ và đầy tiếng loa công cộng này, tôi đã viết xong cuốn truyện ký về nghệ sĩ Piano Đặng Thái Sơn vừa đoạt giải Nhất về cuộc thi mang tên nhà soạn nhạc vĩ đại Sô-panh tại Ba Lan. Điều thú vị là có hai bản thảo về Đặng Thái Sơn của các nhà văn nhà báo nổi tiếng khác nhưng cuối cùng NXB đã chọn bản thảo của tôi, một thằng học viên báo chí nặng 43 ký (tính cả giày) đi cái xe đạp ba ngày vá một lần, và đêm nào cũng kê vali trùm mền viết trong tiếng réo ùng ục của cái bụng lép kẹp đến dính vào lưng. Sau khi tôi được in cuốn sách đó "vòng kim cô" của kỷ luật đối với tôi cũng nới rộng chút ít. Có vẻ như mọi người đã chia sẻ với tôi ít nhiều cái điều mà tôi tâm huyết rằng "Là nhà báo thì hãy viết đi" và hình như cũng thông cảm rằng tôi hay cúp cua là có lý do của nó. 

Chưa hết, tôi còn nhiều kỷ niệm về bóng bánh đủ thể loại ở trường. Tôi nhỏ con nhưng chơi đủ ba món bóng đá, bóng chuyền và bóng bàn. Bóng bàn là đội hình chính chủ lực của trường cùng Lê Văn Thanh cùng lớp. Nhờ chơi bóng bàn khá tốt nên tôi và Lê Văn Thanh lê la đi đánh ké ở các lò bóng bàn Hà Nội trong đó có lò bóng bàn báo QĐND và quen được nhiều nhà báo, nhà văn trên tuổi. Bóng chuyền thì tôi làm chuyền hai. Bóng đá gôn tôm cũng ngon lành. Có hôm, chơi bóng xong, bể nước cạn khô, tôi phải lấy nước luộc rau rửa chân chứ không thể xỏ dép với đôi chân như vừa lội ruộng vậy được :-))...

Tác giả với những cuốn sách của mình. Ảnh: NVCC

Ngày ra trường

Đó là những ngày khép lại tất cả mọi việc riêng chung. Tất cả về lại mái trường này làm mọi giấy tờ, thủ tục, chộn rộn chuyện đi ở, ai về báo nào đài nào. Hồi ấy người tốt nghiệp đại học báo chí còn hiếm chứ nói gì đến việc có cả hai bằng đại học. Tôi bán áo lạnh cho đứa ở lại với mùa đông Hà Nội, phân phát áo cũ cho ông bạn đang đau khổ vì chưa được phân công (Tôi tặng áo thôi chứ tặng quần thì chả ai mặc vừa). Gần 60 đứa lớp Báo 4 có thể ví như là mẻ tôm tươi, rất đắt hàng, hầu như không ai lo thất nghiệp, chỉ là về chỗ nào hợp hay không, ngon ít hay ngon nhiều mà thôi. Và cuối cùng lễ bế mạc cũng tới.

Hôm ấy, tôi vừa đạp xe đi đâu đó về thì mấy anh cán bộ lớp bảo: "Mày văn hay chữ tốt viết cái bài phát biểu khi ra trường đi". Thế là tôi nằm bò ra giường viết một lèo trên giấy kẻ ca-rô loại 5 hào 2, vừa viết vừa sụt sịt mấy lần. Viết xong cũng đến giờ lên hội trường làm lễ bế giảng. Cả lớp tôi lúc ấy ngoan hiền nghiêm túc và dịu dàng với nhau một cách bất ngờ. Mọi nghi thức xong.

Các thầy gục gặp đầu trầm ngâm. Và chính tôi cũng nghẹn nghẹn mấy lần.

"Thời gian tựa cánh chim bay.
Xa rồi những tháng cùng ngày.
Còn đâu mùa cũ yên vui.
Nhớ nhau suốt đời mà thôi".
(Hoài Cảm- Cung Tiến)

Phải biết nâng niu tình bạn, phải biết quý trọng thời gian đã được sống và học tập cùng nhau dưới một mái trường. Bởi rồi tất cả sẽ trôi qua. Tất cả sẽ vụt qua như một ánh sao băng. Sau này tôi đã viết như thế trong lời tựa một cuốn sách của mình. Tôi xem lại hình hôm tốt nghiệp mới nhớ ra hôm đó tôi mặc áo sơ mi màu nâu, để tóc rất dài, mặt nhọn như cái đinh... và khi gầy thì thường là mắt rất to và sáng như đèn điện Cầu Giấy...

Những ngày sau đó...

Sau khi tốt nghiệp, tôi về công tác tại báo Tuổi Trẻ 7 năm, về báo Lao Động 18 năm và về làm Phó chủ tịch Hội nhà báo Tp HCM, làm Tổng Biên tập Tạp chí Nghề báo 6 năm. Một cái mốc quan trọng nữa là tôi còn được bầu là một trong 86 Đại biểu của Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố có 8 triệu dân. Khi tôi ngồi họp với tư cách đại biểu HĐND TP HCM có người còn tưởng tôi là nhà báo đi tác nghiệp mà ngồi...lộn chỗ. Chi tiết "Đại biểu" này tôi nêu lên không phải để khoe mà để báo cáo với nhà trường rằng tôi cũng có tham gia hoạt động này nọ chứ không chỉ biết leo cổng cúp cua... Và đồng thời tôi cũng tham gia giảng dạy thỉnh giảng môn phóng sự cho trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng các lớp của Hội Nhà báo các cấp suốt 20 năm qua.

Trong nhiều lần đi công tác và đi giảng dạy các tỉnh, tôi lại được gặp lại các bạn học của mình và đó là những kỷ niệm tuyệt đẹp của thời "hậu tuyên huấn". Có lần đi thăm Đài truyền hình Lào ở Viêng Chăn , tôi còn nghe sinh viên Lào từng học báo chí ở Học viện nói "Chào Thầy ạ" mà giật cả mình. Rồi lên thăm báo Tuyên Quang thời chiến tranh Biên giới gặp hai cao thủ chữ xấu nhất lớp Báo 4 là Lê Văn Đang và Phạm Đình Sâm cũng đang trực chiến như lính. Có lần tôi đi viết về buôn lậu ở Lạng Sơn, đóng vai con buôn thuê xe Honda ôm ra cửa khẩu Tân Thanh, đang đi thì gặp đồng môn Hoàng Trung Thu đang đi bộ, anh la toáng lên: "Ơ HDN, còn làm báo không, ở Sài Gòn ra bao giờ đấy?". Lộ bem, tôi phải xuống xe gặp anh rồi... thuê xe khác đi tiếp.

Đau thương hơn, có lần tôi và Huy Quân đang thực tập ở báo Tiền Phong, cùng xin giấy giới thiệu vào Vũng Tàu công tác. Tỉnh ủy thu xếp cho "hai nhà báo" ở một villa rất đẹp, nhưng rồi thấy "hai nhà báo" toàn lếch thếch đi bộ chứ chả ai đưa xe hơi đưa đón đi làm việc như người ta, thế là họ viện khéo lý do là có khách VIP đến, mời luôn "hai nhà báo" ra phòng trọ... Lại còn nhớ có lần tôi và hai anh bạn cùng lớp đi Hải Phòng. Xe chở ba, bị công an tuýt còi. Anh bạn chủ xe rất dịu dàng xin lỗi nhưng không được đành bỏ luôn xe đó, lát sau có cuộc gọi đến năn nỉ trả lại xe vì "chúng em không biết các anh là nhà báo". (Chả là anh sếp của họ từng đọc nhiều bài anh bạn tôi viết nên cả nể bỏ qua. Thế mới biết đời phóng viên đầy chuyện vui buồn ra sao...)

Hôm nay đọc lại danh sách lớp và liên lạc được với nhiều người trong lớp, tôi rất vui và xúc động vì thấy nhiều bạn bè lớp Báo 4 đã thành danh, hai người cấp thứ trưởng, các cấp vụ ít nhất cũng cỡ 10 vị, còn cấp tổng cấp phó các báo các hội, trưởng phó khoa Báo chí...cũng nhiều, các cây bút cứng cũng khắp cả nước. Điểm danh thấy lớp Báo 3 và Báo 4 rất nhiều người thành danh. Có Nguyễn Kinh Quốc lớp Báo 3 là người phát ngôn của Thủ tướng Phan Văn Khải... Anh Hà Thanh Niên lớp Báo 3 làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre (đã mất).

Báo 4 thân yêu của tôi có nhiều bạn làm phóng viên trên mọi miền tổ quốc mà đi đến địa phương nào cũng nghe nhắc đến trên tuổi có họ. Có người làm tuỳ viên ở Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. Có người đi phiên dịch cho bộ đội ta hỏi cung tù binh Trung Quốc. Có chàng khi xưa tinh nghịch thì đi làm báo công an.

Cái anh trông rất nông dân thì làm báo hàng không. Cái anh cận thị 12 độ thì thành phóng viên thể thao đẳng cấp của nhà đài. Có chị hiền khô thì thành Vụ phó Vụ chống tệ nạn xã hội. Có chị hay đánh bóng bàn buổi trưa ở sân trường bị bảo vệ tuýt còi thì sau thành Trưởng khoa Báo chí.

Cái anh chơi guitar bằng tay trái thì thành Phó TBT báo SGGP. Có anh tốt nghiệp hai bằng đại học xong vẫn đủ tuổi đi lính thì nhập ngũ lên Vị Xuyên, Thanh Thủy uýnh nhau với Trung Quốc rồi mới về làm báo tiếp... Và thời gian trôi qua, chúng tôi cũng ngậm ngùi chia tay ba người bạn trong lớp Báo 4 đã ra đi mãi mãi...

Nghề báo là nghề truyền thống cha truyền con nối. Sau  này tôi đi dạy có nhiều sinh viên đến tự giới thiệu là con của anh này chị kia cùng thời với tôi hồi đó. Và các em  tự giới thiệu xong cũng không quên khuyến mãi một câu: "Bố (mẹ) em nói hồi đó thầy Nhân rất abcd này nọ" nghe mà muốn trốn luôn :)) ...

Vĩ thanh

Vậy là cuối cùng cuộc đời sinh viên đã qua mà cuộc đời làm báo cũng đã qua. Lớp Báo 4 chúng tôi bây giờ đa số đã  là U70, thành cán bộ hưu trí và hàng tháng xỏ dép đi họp chi bộ tổ dân phố. Bây giờ các thế hệ thầy cô và sinh viên của trường liên lạc với nhau bằng facebook, với đủ thứ công cụ và khái niệm Internet, mạng xã hội, thế giới phẳng... mà thời chúng tôi chưa từng biết đến một chữ cái của những cụm từ này.

Khi có phóng viên tờ báo nọ phỏng vấn tôi thời xưa làm báo có khó khăn gì? Tôi trả lời khó khăn là vì thời đó chưa có Internet. Lại hỏi thời nay làm báo khó khăn chỗ nào? Tôi trả lời thời nay làm báo khó khăn cũng là vì đã có... Internet! Rồi họ lại hỏi có phải báo in đã hết thời, báo in giờ chỉ để gói xôi thôi phải không? Tôi trả lời: Vậy thì bạn đừng lo, chừng nào còn xôi thì còn báo in...:-)) 

Các bạn Báo 4 và các bạn đồng môn của tôi ơi! Chúng ta đã cùng học từ cái thời xôi cũng chả có mà ăn, nay là thời có rất nhiều xôi mà chỉ ít người ăn, chả sao cả.  Tôi cái thời một ngày hai bữa cơm mì nặng 43 ký lô ( cả giày) nay ơn giời đã tăng trọng lên gần 60 ký (cả điện thoại + laptop). Từ chỗ chỉ có ngót trăm bạn bè đồng môn năm xưa thì nay đã có cả ngàn đồng nghiệp sát cánh bên nhau. Cái lò báo chí của chúng ta vẫn còn rực lửa truyền thống, cái máu làm báo trong mỗi con người chúng ta, của chúng tôi, và các bạn... vẫn đang rạo rực trước mỗi tác phẩm báo chí đúng nghĩa cho cuộc sống này. 

Khi tôi đang viết những dòng này thì qua facebook tôi đã liên lạc được với thầy Trần Bá Lạn, Trưởng khoa Báo chí đầu tiên của trường. Thật trân trọng và đáng nể khi thầy đã gần 90 tuổi mà vẫn viết, vẫn dịch các công trình đồ sộ và vẫn chia sẻ với chúng tôi mọi vui buồn nghề nghiệp qua... facebook. 

Tôi và công việc của tôi trước kia và bây giờ đều liên quan đến cây bút, và mỗi lần cầm đến cây bút tôi luôn nhớ và trân trọng những mái trường đào tạo và các thầy cô bạn bè đồng môn mọi thế hệ. Đó là những kỷ niệm tuyệt vời và là những bệ phóng nạp đầy năng lượng giúp tôi tự tin và đầy tâm huyết tiếp bước trên con đường mà tôi đã chọn. 

Huỳnh Dũng Nhân 
(Lớp Báo 4) 

Bình luận