Báo chí thế giới trong đại dịch Covid-19:

“Ánh sáng ở cuối đường hầm”

04/03/2021, 08:57

“Ánh sáng ở cuối đường hầm” - Đại dịch Covid-19 là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng chưa từng có trong lịch sử cận đại trên quy mô toàn cầu, tác động đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.

Đại dịch Covid-19 được coi là cơn chấn động thứ hai đối với báo chí

Nguồn thu sụt giảm

Là cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng thấy, đại dịch Covid-19 ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc đến hoạt động báo chí trên toàn thế giới. Nó không chỉ gây ra nguy cơ về sức khỏe, đe dọa cơ hội việc làm mà còn buộc các nhà báo thay đổi phương thức tác nghiệp. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008-2010, đại dịch Covid-19 được coi là cơn chấn động thứ hai đối với báo chí, nhấn chìm một số cơ quan báo chí trong khó khăn tài chính và nguy cơ phá sản, nhưng cũng mang lại cơ hội cho một số cơ quan khác tìm ra cách làm mới để khẳng định vai trò và sứ mệnh xã hội của mình. Ảnh hưởng đầu tiên và rõ nét nhất của đại dịch với báo chí thế giới chính là về doanh thu, đặc biệt là doanh thu quảng cáo.

Các cơ quan báo chí trên thế giới thường có hai nguồn thu chủ yếu, gồm doanh thu quảng cáo và doanh thu trực tiếp từ sản phẩm báo chí. Trong mô hình kinh doanh truyền thống, cơ quan báo chí cung cấp nội dung miễn phí cho công chúng và thu phí quảng cáo từ các doanh nghiệp. Càng có đông đảo công chúng theo dõi, đơn giá quảng cáo của cơ quan báo chí càng cao. Mô hình này đang thay đổi do áp lực từ truyền thông số và truyền thông xã hội. Đối mặt với tình trạng doanh thu quảng cáo trên đà suy giảm, các cơ quan báo chí tìm cách đa dạng hóa nguồn thu từ thiết lập bức tường thu phí như trường hợp tờ The New York Times (Mỹ) đến kêu gọi sự ủng hộ tài chính của công chúng như tờ The Guardian (Anh).

Đa dạng hóa các sản phẩm báo chí góp phần giành lại độc giả từ mạng xã hội

Trong đại dịch Covid-19, nhiều tờ báo ở Mỹ như The Atlantic, The Philadelphia Inquirer, The New York Times (NYT), The Wall Street Journal và Bloomberg News đã quyết định gỡ bỏ bức tường thu phí đối với các tin tức liên quan đến đại dịch. Một mặt, động thái này được cho là sự đóng góp tích cực vào nỗ lực phòng chống dịch chung, thể hiện trách nhiệm xã hội của các cơ quan báo chí. Mặt khác, nó nằm trong chiến lược thu hút thêm công chúng của các cơ quan báo chí.

Trong quý II năm 2020, doanh thu quảng cáo của NYT giảm đến hơn 50% do đại dịch tác động mạnh mẽ đến nhu cầu của các nhà quảng cáo. Sự cạnh tranh của quảng cáo trên truyền thông xã hội cũng góp phần vào sự suy giảm này. Với khả năng đối tượng hóa công chúng mục tiêu và đo lường hiệu quả quảng cáo tốt hơn, truyền thông xã hội đang giành lấy phần ngày càng lớn hơn của chiếc bánh quảng cáo ngày càng nhỏ lại. Mặc dù doanh thu quảng cáo giảm nhưng số người đăng ký đọc báo trực tuyến của NYT tăng thêm 587.000 người. Mark Thompson, Giám đốc điều hành của NYT cho rằng, doanh thu quảng cáo thấp hơn sẽ gây áp lực lợi nhuận và NYT sẽ phải tiến hành các biện pháp cắt giảm chi phí, bao gồm tinh gọn nhân sự.

Trong bối cảnh khó khăn chung, nhiều cơ quan báo chí trên thế giới phải thực hiện các biện pháp triệt để nhằm cắt giảm chi phí hoạt động bao gồm dừng xuất bản báo in, giảm lương của phóng viên và sa thải nhân sự. Tại Mỹ, hàng loạt tờ báo quốc gia và địa phương ở khắp các bang dừng hoạt động của báo in và chuyển sang hoạt động trực tuyến hoặc tuyên bố phá sản. Hàng nghìn phóng viên, biên tập viên mất việc làm do tình trạng này. Danh sách các cơ quan báo chí đình bản và số lượng nhà báo mất việc làm được Viện Báo chí Poynter cập nhật trên trang web của mình và danh sách này chưa có dấu hiệu dừng lại. Những phóng viên, biên tập viên may mắn giữ được việc làm phải gánh vác khối lượng và áp lực công việc lớn hơn trước.

Trong khi đó, tại Anh, doanh thu của các tờ báo in quốc gia giảm đến 30% do các lệnh phong tỏa của chính phủ. Điều này là do hàng nghìn đại lý báo chí phải đóng cửa; các siêu thị giảm số lượng báo đặt do lượng người mua ít đi; giao thông công cộng bị gián đoạn và hàng chục nghìn người phải cách ly. Hàng trăm nhà báo phải nghỉ việc tạm thời trong khi hàng trăm người khác đối diện với nguy cơ mất việc do doanh thu quảng cáo của các cơ quan báo chí sụt giảm. Rasmus Kleis Nielsen, Giám đốc Viện Reuters tại Đại học Oxford dự đoán, sự sụt giảm nghiêm trọng doanh thu quảng cáo sẽ khiến hàng trăm, thậm chí hàng nghìn nhà báo mất việc. Người phát ngôn của công ty mẹ của tờ The Guardian cho biết, cuộc khủng hoảng “có tác động tiêu cực rõ ràng đối với doanh thu quảng cáo của tất cả doanh nghiệp và Guardian không phải là ngoại lệ”.

“Ánh sáng ở cuối đường hầm”

Thách thức thông tin

Nguồn thu sụt giảm ảnh hưởng toàn diện đến hoạt động của các cơ quan báo chí trên thế giới, đặc biệt là các hoạt động nghiệp vụ cốt lõi. Đại dịch Covid-19 khiến các cơ quan báo chí lúng túng không chỉ trong việc bảo đảm an toàn tác nghiệp cho phóng viên mà cả trong việc tìm kiếm mô hình, phương thức thông tin phù hợp. Đề cao tính xác thực, nóng hổi và sinh động của thông tin, nghề báo đòi hỏi các phóng viên thâm nhập thực tế, chứng kiến sự kiện và đưa tin từ hiện trường. Tuy nhiên, việc tác nghiệp ở các môi trường nguy cơ cao như bệnh viện, các khu phong tỏa, các ổ dịch… tiềm ẩn những rủi ro khó lường đối với các phóng viên. Không ít phóng viên buộc phải làm việc ở nhà theo yêu cầu của tòa soạn để hạn chế rủi ro.

Gigi Donelli, phóng viên Đài phát thanh Radio 24 (Italia) cho biết, đại dịch buộc Đài thực hiện phương thức làm việc từ xa và giới hạn số người làm việc trực tiếp tại tòa soạn. Con số 100 người làm việc tại tòa soạn trong điều kiện bình thường đã giảm xuống 3 trong bối cảnh dịch bệnh nhằm thực hiện các yêu cầu giãn cách xã hội và tránh tập trung đông người của chính phủ. Phần lớn hoạt động của các phóng viên được thực hiện thông qua điện thoại, WhatsApp và thư điện tử . Radio 24 không phải là cơ quan báo chí duy nhất thực hiện các biện pháp giãn cách và yêu cầu phóng viên làm việc từ xa. Tình cảnh “tòa soạn trống vắng” sẽ còn tiếp tục khi dịch bệnh ở Mỹ và châu Âu vẫn còn những diễn biến phức tạp, khó lường.

Tại Anh, doanh thu của các tờ báo in quốc gia giảm đến 30% do các lệnh phong tỏa của chính phủ vì dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 khiến vai trò cung cấp thông tin chính xác, kịp thời của báo chí càng trở nên quan trọng hơn. Báo chí không chỉ cung cấp thông tin về diễn biến dịch bệnh, hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa mà còn cần nuôi dưỡng hi vọng, sự lạc quan ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất. Thế nhưng, phóng viên cần đưa tin về đại dịch Covid-19 như thế nào? Phóng viên cần tập trung vào những khía cạnh nào của dịch bệnh? Phóng viên cần thu thập, phân tích và phản biện các số liệu về dịch bệnh như số ca bị nhiễm, số ca tử vong như thế nào? Phóng viên cần có lập trường như thế nào khi các luồng thông tin về dịch bệnh xung đột nhau? Những câu hỏi này là những thách thức lớn đối với vai trò thông tin của báo chí trong dịch bệnh.

Ở Mỹ và châu Âu, việc thông tin về Covid- 19 như một loại “cúm mùa” góp phần gây ra tâm lý chủ quan. Quyết định tiếp tục mở cửa nền kinh tế và duy trì tự do cá nhân của chính phủ của các quốc gia này khi quy mô và tốc độ lây nhiễm gia tăng chóng mặt đã không được phản biện một cách đầy đủ. Ngay cả khi Italia nhanh chóng bị nhấn chìm trong dịch bệnh thì một số nước châu Âu vẫn tin vào khả năng “miễn dịch cộng đồng”. Ed Wasserman, Trưởng Khoa Báo chí của Đại học California ở Berkeley (Mỹ) cho rằng, các cơ quan báo chí tập trung nhiều vào diễn biến của dịch bệnh hơn là cung cấp các bản tin chuyên sâu.

Lý giải về tình trạng này, các nhà nghiên cứu báo chí cho rằng, tính chất phức tạp và bản chất chưa rõ ràng của dịch Covid -19 là thách thức lớn nhất đối với nhà báo trong nỗ lực cung cấp thông tin chính xác cho công chúng. Theo quan điểm này, ngay cả các nhà khoa học, các chuyên gia dịch tễ học còn chưa xác định rõ được bản chất của dịch bệnh, các nhà báo càng không thể. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, tư duy phản biện của các nhà báo đã không được phát huy đúng mức, đặc biệt trong việc đặt ra các câu hỏi về các biện pháp kiểm soát dịch bệnh của chính phủ. Nhà báo không chỉ thông tin cho công chúng biết các động thái của chính phủ mà còn phải phản biện, đánh giá các động thái đó dưới ánh sáng của lợi ích xã hội.

Mỹ là một trong những quốc gia bị chia rẽ nghiêm trọng trong cuộc chiến chống dịch bệnh, chủ yếu là do những luồng thông tin trái ngược từ phía chính phủ và các cơ quan báo chí. Giáo sư y tế cộng đồng John Swartzberg tại Đại học California ở Berkerly (Mỹ) cho rằng: “Tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết khi thông tin mà chúng ta nhận được từ Nhà Trắng vô cùng rối loạn. Xã hội bị chia rẽ bởi thông tin từ chính phủ mà thông tin đó lại không đáng tin. Vì thế, các nhà báo càng có vai trò quan trọng hơn”. Mặc dù vậy, tình trạng các nhà báo thiếu kiến thức chuyên môn về y tế là điều có thể hiểu được, nhất là khi trong một thời gian dài vai trò của các phóng viên y tế chưa được xem trọng đúng mức.

Hơn nữa, Covid-19 không giống với bất kỳ cuộc khủng hoảng nào mà báo chí từng đưa tin. Lối đưa tin nóng (breaking news) như với các cuộc khủng hoảng ngắn hạn hoàn toàn không phù hợp với đại dịch này. Việc phát hiện các ổ dịch mới, sự gia tăng các ca nhiễm trong cộng đồng, số ca tử vong tăng lên nhanh chóng… không nên và không thể đưa như những tin nóng vì cách đưa tin ấy thiếu sự thấu cảm cần thiết trong khi lại quá lạnh lùng. Đại dịch Covid-19 cho thấy, tin tức về dịch bệnh không phải là những câu chuyện thứ yếu so với các tin tức chính trị-kinh tế mà là câu chuyện sinh tử. Nó động chạm đến mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Trong khi đó, không ít nhà báo chưa sẵn sàng hoặc chưa nhận thức đầy đủ về sự thay đổi này.

Nhiều cơ quan báo chí trên thế giới đã phải cắt giảm chi phí hoạt động bao gồm dừng xuất bản báo in, giảm lương của phóng viên và sa thải nhân sự

Ánh sáng cuối đường hầm

Chính trong những khó khăn hiện tại, báo chí thế giới cần làm mới chính mình và tìm ra những hướng đi mới không chỉ để giải quyết bài toán kinh tế mà còn khẳng định vị thế xã hội và khôi phục niềm tin của công chúng. Báo chí dữ liệu và báo chí khoa học đang được coi là hướng đi quan trọng cho báo chí trong đại dịch Covid-19. Theo đó, báo chí không cung cấp thông tin đơn thuần mà phải gia tăng hàm lượng khoa học của thông tin, nâng cao giá trị và lợi ích xã hội của tin tức. Tính chất phức tạp và nguy cơ khó lường của đại dịch Covid-19 cần được làm sáng tỏ bằng ánh sáng của khoa học, từ đó giúp các chính phủ có giải pháp phù hợp và công chúng có biện pháp tự bảo vệ mình.

Ngay từ tháng 6/2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Liên đoàn các nhà báo khoa học thế giới (WFSJ) đã tổ chức các cuộc trao đổi trực tuyến giữa các thành viên của WFSJ và các nhà khoa học của WHO. Mục đích của các cuộc trao đổi này là cung cấp các kiến thức chuyên môn của WHO cho các nhà báo, từ đó chuyển tải thông tin chính xác, đáng tin cậy về đại dịch đến công chúng. Ngược lại, các cuộc trao đổi này cũng giúp các chuyên gia của WHO điều chỉnh phương thức cung cấp thông tin cho báo chí, góp phần thúc đẩy báo chí khoa học vì lợi ích của xã hội. Các nhà báo đến từ 37 quốc gia khác nhau thuộc các loại hình báo chí khác nhau như báo in, phát thanh, báo mạng, thông tấn xã, tạp chí khoa học… đã tham gia các cuộc trao đổi với 5 chuyên gia hàng đầu của WHO.

Không chỉ cần tham vấn, tham khảo các nhà khoa học, các chuyên gia y tế, các nhà báo còn cần chủ động thực hiện các nghiên cứu, điều tra riêng để làm rõ bản chất vấn đề. Trên phương diện này, tư duy phản biện, kỹ năng kiểm chứng thông tin, năng lực điều tra của các nhà báo cần được khai thác một cách tối đa. Thông tin báo chí không chỉ cần mang hàm lượng khoa học, có tính chính xác cao mà còn phải sinh động, trực quan, dễ hiểu với những người bình thường. Báo chí khoa học không đồng nghĩa với báo chí khô khan, khó hiểu. Nhà báo là cầu nối hiệu quả giữa nhà khoa học và công chúng, giúp chuyển tải những thông tin khoa học phức tạp theo cách thức dễ hiểu với công chúng. Điều này tất nhiên chỉ có thể thực hiện được khi nhà báo hiểu bản chất vấn đề và có cách tiếp cận phù hợp.

Tiếp tục chuyển đổi số là xu hướng của báo chí thế giới

Giáo sư John Swartzberg cho rằng, các nhà báo cần xây dựng quan hệ với các nhà nghiên cứu - những người có lý lịch khoa học nghiêm túc và các công trình nghiên cứu đáng tin cậy. Các nguồn tin này sẽ giúp các nhà báo nâng cao kiến thức chuyên môn của mình đồng thời tìm ra phương thức chuyển tải thông tin phù hợp với đông đảo công chúng. Giáo sư Swartzberg cho rằng: “Chúng ta đều phải đối diện với thực tế này và tôi cho rằng, trong ngắn hạn chúng ta phải đối diện với những thách thức to lớn. Nhưng về dài hạn, chúng ta sẽ tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn nếu ý thức đầy đủ về những hậu quả hiện nay”.

Cùng với báo chí khoa học, báo chí dữ liệu đang trở thành cách làm của nhiều cơ quan báo chí trên thế giới nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và khách quan về đại dịch. Một số cơ quan báo chí như DW (Đức) thành lập bộ phận báo chí dữ liệu để cung cấp cái nhìn toàn cảnh về dịch bệnh cho công chúng.

Báo chí dữ liệu trước hết góp phần làm rõ số ca nhiễm, số ca tử vong và đặt các số liệu đó trong bối cảnh để mọi sự tăng hay giảm được nhìn nhận một cách cụ thể. Điều này càng đặc biệt quan trọng khi các quốc gia khác nhau có cách thức tính toán số ca nhiễm bệnh, số ca tử vong khác nhau. Trong một số trường hợp, một số chính phủ thậm chí thay đổi cách tính số ca nhiễm và tử vong mới, khiến người theo dõi mất đi bối cảnh của dữ liệu. Các chuyên gia báo chí dữ liệu cho rằng, việc cung cấp số liệu chính xác đến hàng đơn vị về số ca nhiễm bệnh hoặc tử vong có thể không phù hợp do các số liệu này biến động liên tục và khi đại dịch diễn biến phức tạp trên quy mô lớn như ở Italia, Anh, Mỹ… thì việc đưa ra số liệu chính xác là vô cùng khó khăn.

Nhiều cơ quan báo chí trên thế giới như Fiancial Times (Anh), Washington Post (Mỹ) sử dụng phương thức cập nhật số liệu hàng ngày về số ca nhiễm, tử vong. Financial Times cho phép người đọc theo dõi, so sánh số liệu của các quốc gia khác nhau đồng thời công khai nguồn của các số liệu này. Các biểu đồ cho phép hiển thị số ca nhiễm, số ca tử vong mới hoặc con số tổng hợp, giúp công chúng hình dung được mức độ, tốc độ, quy mô gia tăng của dịch bệnh. Trong khi đó, Washington Post cung cấp bài báo so sánh nguy cơ của các nhóm dân số khác nhau và số ca tử vong do Covid-19 so với các bệnh phổ biến khác.

Thế giới đang thay đổi và báo chí phải thay đổi. Đại dịch Covid-19 một lần nữa là lời nhắc nhở đối với các cơ quan báo chí phải làm mới mình. Đây không chỉ là câu chuyện bảo đảm nguồn thu, duy trì lợi nhuận mà còn là câu chuyện thực hiện nghĩa vụ và sứ mệnh xã hội, nhất là trong những thời khắc khó khăn của lịch sử. Các cách làm mới xét cho đến cùng phải giúp cơ quan báo chí thực hành báo chí chất lượng, báo chí trách nhiệm xã hội. Trong bối cảnh ấy, báo chí khoa học, báo chí dữ liệu, báo chí tích cực và báo chí giải pháp đang là những hướng đi mới, rất đáng quan tâm.

TS. Vũ Thanh Vân

Bình luận