Bâng khuâng “trăng rừng”

17/02/2020, 10:57

Bâng khuâng “trăng rừng” - Cầm trên tay tập thơ Trăng rừng của nhà thơ, nhà báo, nhà lý luận – GS, TS. Bùi Quảng Bạ, tôi như bị cuốn theo mạch thơ Trăng tuôn chảy bởi rất nhiều bài đề cập đến chữ TRĂNG. 24 chữ TRĂNG là 24 dáng trăng, 24 tâm trạng trăng đầy thi vị, ẩn chứa biết bao cảm xúc buồn, vui, cô đơn, lẻ loi, nồng ấm...

         

Vẫn biết rằng, xưa nay, Trăng luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho những ai mang tâm hồn thi sĩ, nhưng với Thiếu tướng Bùi Quảng Bạ, gần nửa thế kỷ gắn bó với cuộc đời binh nghiệp, tôi càng trân trọng cảm xúc trào dâng được ghi dấu trong Trăng rừng. Mượn ánh trăng để nói, để miêu tả tâm trạng mình qua nhiều chiều cảm xúc, bình dị mà thiết tha, chân tình mà sâu lắng. Có lẽ vì vậy, Trăng rừng tạo nên sức hút khó cưỡng với độc giả.

        “Chiều tàn lên biên cương

     Qua rừng sâu vách đá

     Đêm chìm vào lạnh giá

     Gió lưng đèo mông lung

           Trăng theo ta lên rừng

           Trăng cùng ta leo dốc

           Đường quanh co khó nhọc

           Chẳng ngại ngùng xa xôi.

     Lên cao nghe sương rơi

     Xuống thung tìm suối hát

     Ánh trăng trùm bát ngát

     Trải rừng khuya mơ màng.

     Đêm nay trăng nằm ngang

           Nhẹ nhàng như cánh võng

           Trời mắc trong yên lặng

           Ru giấc nồng biên cương” (Trăng rừng – Bùi Quảng Bạ)

Vẫn trăng đó thôi, nhưng bút mực thi ca có bao giờ nói hết, tả hết các sắc thái biểu cảm cũng như dáng hình của trăng. Trăng len sâu trong tâm người yêu thơ, hòa kết trong trạng thái cảm xúc để cất lên giai điệu đa thanh, muôn màu của nhịp sống. Trăng rừng của ông cũng là như thế.

Không ồn ào, chẳng tiếng động, trăng trong thơ ông lặng lẽ “theo”, “cùng” đồng hành với dấu chân người lính trên miền biên cương. “Trăng theo ta lên rừng/ Trăng cùng ta leo dốc”. Rừng sâu, vách đá, quanh co, khó nhọc, vất vả của cung đường nào có quản chi khi bên anh là ánh trăng của núi. Có lẽ, dưới trăng và bên trăng, người lính không còn cảm thấy cái “lạnh giá” đêm biên cương và “Gió lưng đèo mông lung” cũng không còn đáng ngại.

Với ai đã từng một lần qua đêm nơi miền núi mới có thể cảm nhận rõ cái lạnh giá, cô đơn đầy thử thách. Dường như là quy luật của tự nhiên nơi đây, đêm trăng càng sáng, cái lạnh càng sâu, càng thấu tâm can. Trong hoàn cảnh ấy , mấy ai còn nhận thấy cái đẹp của trăng, để phơi phới cùng trăng “nghe sương rơi”, “tìm suối hát”. Phải là người lạc quan lắm, tâm hồn yêu đời lắm mới cất lên được tiếng thơ bình dị, mộc mạc và trong sáng đến thế.

Ánh trăng trùm lên muôn loài, vạn vật. Ánh trăng trở thành một thứ tài sản vô giá đối với người dân miền núi và người lính nơi biên cương. Do vậy, dưới ánh nhìn của ông, trăng không lạnh lẽo, mà nồng nàn, “bát ngát” lan tỏa. Và cũng chính ánh trăng này trở thành chất xúc tác, khơi hồn thơ bay bổng.

Ánh trăng trùm bát ngát

Trải rừng khuya mơ màng”.

Có nét gì đó đồng điệu, quen thuộc trong “bát ngát” trăng khuya. “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền" (Tin thắng trận - Hồ Chí Minh). Phải chăng, chất thi sĩ hòa quyện trong tình yêu thiên nhiên thiết tha đã tạo nên hình ảnh trăng thi vị đến vậy. Không chau chuốt, cầu kỳ, nhưng chỉ một từ “trùm” thôi cũng đủ tạo hình ánh trăng rừng chốn biên cương. Một từ “trải” mà hàm chứa bao cái mơ màng, lãng mạn lan tỏa từ “bát ngát” trăng biên cương đêm ấy.

             “Đêm nay trăng nằm ngang

       Nhẹ nhàng như cánh võng

       Trời mắc trong yên lặng

       Ru giấc nồng biên cương”

Đêm nay trăng nằm ngang”. Từ “nằm ngang” thật lạ. Lục tìm trong ký ức, không thấy nét vẽ nào về trăng “nằm ngang”. Lên trang Việt Nam Thư Quán (http://vnthuquan.net), tôi tìm được khoảng 250 bài thơ với tựa đề có chữ “trăng” của các thi sĩ trong văn học Việt Nam, nhưng chỉ thấy tạo hình trăng "viên mãn" tròn đầy, "trăng vàng trăng ngọc", "trăng tàn", "trăng khuyết", “trăng lưỡi liềm”, “trăng xế”; "trăng xẻ làm đôi"... hay tạo hình trăng đầy tâm trạng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều; của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm trong Chinh phụ ngâm khúc; của Hồ Xuân Hương trong Tự tình II; của Hàn Mặc Tử trong Một nửa trăng và Bẽn lẽn: “Hôm nay có một nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!”(Một nửa trăng); Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi”. (Bẽn lẽn); Tuyệt chưa thấy dáng trăng “nằm ngang”. Hình ảnh thơ lạ, nhưng ý thơ lại nhẹ nhàng, chân thực và rất đỗi giản dị.

             “Nhẹ nhàng như cánh võng

      ...Ru giấc nồng biên cương”

Đồng hành từ hành động lúc còn tỉnh thức, chưa đủ, trăng còn đi vào giấc ngủ, ru “giấc nồng” cho người lính chốn biên cương.

Có thể nói, tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng hình ảnh so sánh, nhân hóa để tạo hình trăng rừng thân thiết, gần gũi như người bạn tâm giao. Tuy nhiên, có điều khá đặc biệt, trăng rừng nơi đây không tròn đầy mà khuyết tựa “cánh võng”. Phải chăng, tác giả muốn mượn hình ảnh trăng khuyết để ngầm nhắc về những khó khăn, thiếu thốn miền biên ải, ngầm đề cập tới bản lĩnh, tâm hồn người lính biên cương. Và ấn tượng hơn cả có lẽ là cách nhập đề, vừa tự nhiên như lời thủ thỉ tâm tình về một buổi “Chiều tàn lên biên cương”, vừa như lời giãi bày tâm trạng. Đó phải chăng là duyên, là cớ, là khởi đầu của một tình yêu thiên nhiên thiết tha của một hồn thơ trẻ trung, lạc quan đến lạ lùng./.

Hà Nội, tháng 10/2019

(Một thoáng cảm nhận khi đọc Trăng rừng của Thiếu tướng công an Bùi Quảng Bạ)

  TUYẾT LAN  - Học viện Chính trị CAND

Bình luận