Anh mõ và nghề báo

06/05/2018, 08:32

Anh mõ và nghề báo - Truyền thuyết cho biết, Vua Hùng kén rể cho công chúa đã “sai người đi loan báo trong nước, ai thu được voi ba ngà (?), gà chín cựa... đem đến sớm được gả Mỵ Nương cho”

Từ xa xưa, nhà vua đã sử dụng “sứ giả”, “anh mõ” để truyền lệnh lời của Vua

...Và đến thời có giặc nhà Ân (?) vua đã cử sứ giả xuống các làng, cầu hiền, tìm người ra đánh giặc. Và đã tìm được cậu con trai làng Phù Đổng, sau khi đánh tan giặc đã bay về Trời...

Qua những thông tin trên, có thể cho rằng, từ xa xưa, người cầm quyền bính trên đất Việt đã sử dụng một “công cụ” “chức danh” là “sứ giả”, “anh mõ” để truyền lệnh lời của Vua đến toàn dân. Và, nếu như lịch sử đã chứng minh mỗi làng có một anh mõ thì “binh chủng”, ngành nghề này, lực lượng truyền thông này không phải nhỏ... Nếu biên chế mỗi làng có một “chức vụ” là anh mõ, theo sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” (thuộc các tỉnh Nghệ Tĩnh trở ra) (1) .

“Hải Dương có 229 xã, thôn, phường...
Sơn Tây có 207 xã, thôn
Sơn Nam thượng có 1132 xã, thôn,...
Sơn Nam hạ có 1189 xã, thôn...
Kinh Bắc có 1181 xã, thôn...

Chưa kể Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Nghệ An, Thanh Hóa, đã có tới (229+207+1132+1189+1181) trên 4.000 “anh mõ”...

Vậy “anh mõ” là ai?

Ngô Tất Tố, nhà báo, nhà văn (1894 - 1954) trong Thi văn Bình chú, xuất bản lần đầu vào năm 1941 cho biết: Theo tục nhà quê, làng nào cũng có “mõ”. Mõ (thường gọi là thằng Mới) là đầy tớ chung của cả làng và do dân làng bằng lòng (bầu ra) cho làm. Mỗi khi làng có chính lệnh (lệnh của chính quyền) gì mới sai Mõ rao khắp nơi. Và trước khi rao phải đánh một hồi mõ để ai nấy hết hiệu mà lắng nghe. Nếu làng có việc cần phải hội họp thì nó xách cồng đi khua để giục mọi người đến đủ...”

Mõ rao thế nào? Người viết bài này tháng 9, 10 năm 1945, ngay sau khi Tổng Khởi nghĩa thành công đã nghe anh mõ “Đinh”, có lần rao như sau: “Chiềng(2) làng thượng hạ, tún ni ra đềnh, họp bàn đi mết tinh...”

Còn theo lời cụ Nam, phường Trung Hòa, Hà Nội anh Mõ cuối cùng của làng là cụ Sinh, năm nay đã gần 90, có nhà cửa khang trang. Anh mõ này thường rao: “Trình làng, thượng hạ, Tây Đông, sáng mai ra đình ăn cỗ vạ”(3) . Hữu Ngọ, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam”, Nhà xuất bản Thế giới in năm 1995, trang 413 viết: “Mõ làng - Người trong làng ai muốn sai cũng được. Phải rao mõ mời làng đến họp, dự cỗ, xử án hay thông báo chính sách mới, khi họp, mõ phải trải chiếu, hầu điếu đóm các cụ... Nghề mõ thường là dân khốn cùng, ngụ cư mới chịu làm”(4) .

Cách nhìn của một số người dân là như vậy. Nhưng bậc vua chúa, người phải “nhờ” đến sứ giả, đến “mõ” để truyền đạt ý, lệnh của mình tới “trăm họ dân chúng” lại “khác”.

Anh mõ và nghề báo dường như có sự liên quan đến nhau

Vua Lê Thánh Tôn (1441 - 1497) là một vị anh quân thứ nhất nước Việt Nam, là “Tao đàn nguyên súy”, tao đàn nhị thập bất tú (28 ngôi sao văn thơ)... Vua có một bài thơ nôm về mõ như sau:

“Gớm thay lớn tiếng lại dài hơi!
Làng nước ưng bẩu chẳng phải chơi,
Mộc đạc (mõ gỗ) vang lừng trong bốn cõi
Kim thanh (tiếng vàng - BT) rền rĩ khắp đôi nơi
Đâu đâu, đấy đấy đến nghe lệnh
Xã xã, dân dân phải cứ nhời
Trên dưới quyền hành tay cắt đặt
Một mình, một cỗ thỏa lòng xơi”(5)

Về bài thơ này có bản chép khác:

“Mõ này cả tiếng lại dài hơi
Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi...
...
Trên dưới trong ngoài tay cắt đặt
Một mình một chiếu thảnh thơi ngồi”.

Mõ là một người có uy quyền hiền bách. Mõ là kẻ lớn tiếng, dài hơi. Chức vụ do làng nước(6) ưng bầu chứ không phải thường. Có khi tiếng mõ của nó vang lừng như lúc Thiên tử ban hành chính lệnh ở trong triều. Có khi giọng kim thanh của nó rền rĩ đôi nơi như Khổng Tử học đạo thống của các ông thánh đời trước. Vì vậy, đâu cần đến phải nghe lệnh, dân xã đâu đâu phải cứ lời. Hơn nữa nó lại có quyền sắp đặt kẻ trên, người dưới và lúc ăn uống nó vẫn ngồi riêng một cỗ, không thèm ngồi chung với ai (7) .

Cho đến ngày nay, khi đã có chữ viết, giấy in, báo điện tử, xã hội vẫn cần có một loại hình thông tin - truyền thông bằng tiếng nói chân thực của con người... một lớp “anh mõ” hiện đại, văn minh chăng?

Thủy Trường

(1) Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1987.
(2) “Chiềng” có thể đọc trại chữ “trình”, trình làng. Nhưng “chiềng” cũng là tên gọi của làng, xã như “chiềng Mai, Chiềng Khương, Chiềng Lề,...” “tún” là tối, “ni” là nay, “đềnh” là đình, “mết” là mít... theo âm ngữ địa phương của làng Vạn Hòa, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
(3) Làng có tục, con gái không chồng mà chửa phải nộp vạ rượu, thịt, lợn, xôi cho cả làng ăn.
(4) Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược ở vùng tự do, tạm chiếm, tranh chấp đêm đêm dân làng vẫn được nghe “chòi thông tin” loan báo tin chiến thắng...
Thủy Trường
(5) Ngô Tất Tố, Thi văn bình chi, Sdd, tr.24.
(6) Ngô Tất Tố, Sdd, tr.25: “Quyền sắp đặt trên dưới là việc làm của “Trưởng ban Lễ tân”, “Ban Nội chính”, “Ban Cán bộ” ngày nay? Ngô Tất Tố cho rằng: chữ “nước” ở câu thơ: “Làng nước ưng bầu...” là tác giả có dụng ý vì nó có thể làm cho anh mõ thành ra ông vua...
(7) Trong nghệ thuật chèo Việt Nam, anh mõ thường được dàn dựng như một người thông minh, sáng dạ hơn cả quan lại.

Từ khóa: Anh mõ nghề báo
Bình luận
Trị dứt điểm bệnh ngủ ngáy Gia đình trái cây Pushmax Công ty Cổ phần Sản xuất - Thương mại Violet