Tác phẩm đoạt giải C:

“40 năm ấy - biết bao nhiêu tình!”

21/06/2019, 16:44

“40 năm ấy - biết bao nhiêu tình!” - Loạt bài “40 năm ấy - biết bao nhiêu tình!” (đăng trên Báo An Giang điện tử từ ngày 27/12 đến 31/12/2018) nhằm tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7/1/1979 - 7/1/2019).

Phóng viên trò chuyện, phỏng vấn chú Ba Lê vào năm 2010. Ảnh: TGCC

An Giang - nơi tôi công tác - là địa phương oằn mình gánh chịu thiệt hại nặng nề sau cuộc chiến, với những trang sử đẫm máu, khi hàng ngàn người dân vô tội phải thiệt mạng vì tội ác diệt chủng của Pôn Pốt. Tác phẩm của tôi như một sự tổng kết khái quát về cuộc chiến tại An Giang, thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với cán bộ, chiến sĩ, đồng chí, đồng bào - những người con ưu tú của nhân dân Việt Nam đã chiến đấu, anh dũng hy sinh ngay khi đất nước ta vừa mới hưởng được giá trị của hòa bình, độc lập.

Tôi sinh ra vào lúc chiến tranh biên giới Tây Nam đã lùi vào quá khứ, mọi người nỗ lực hàn gắn vết thương để hướng về tương lai tươi đẹp của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh khác, tôi chỉ loáng thoáng biết cuộc chiến ấy qua lời kể của người lớn về các cuộc sơ tán, nỗi sợ hãi tội ác diệt chủng của Pôn Pốt. Đối với họ, nỗi sợ hãi ấy rất sâu đậm, rõ nét, nhưng với tôi, mọi thứ khá mơ hồ.

Đến khi trưởng thành, nghề báo đã cho tôi đầy đủ điều kiện để cảm nhận rõ nét về cuộc chiến ấy, về những mất mát, đớn đau của nhân dân An Giang nói riêng, vùng biên giới Tây Nam nói chung. Và suốt 10 năm tôi làm báo, những câu chuyện ấy cứ đau đáu trong tôi, chưa bao giờ quên lãng.

Lúc mới vào nghề, tôi nghe nói đến địa danh “nhà mồ Ba Chúc”, ở thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, nơi chứa cả ngàn bộ hài cốt, trưng bày trong tủ kính. Phần vì hiếu kỳ, phần vì muốn tìm hiểu viết bài, tôi đã đến nơi. Khi đã hiểu rõ tường tận, tôi mới cảm thấy xót xa: Vượt lên trên sự rùng rợn, đáng sợ, nhà mồ cất giữ những câu chuyện hết mực bi thương, nhói lòng, níu bước chân du khách xa gần.

Vào đêm 30/4/1977, cùng lúc với 14 xã biên giới của tỉnh An Giang, Pôn Pốt đã xua quân tấn công, tàn sát đồng bào một cách man rợ. Đỉnh cao của tội ác này là cuộc thảm sát 3.157 người dân Ba Chúc từ ngày 18 - 30/4/1978. Qua 12 ngày đêm bị bọn Pôn Pốt chiếm đóng, Ba Chúc bị chìm trong biển máu. Đi đến đâu chúng cũng cướp bóc tài sản, đốt phá nhà cửa, các công trình công cộng; tàn sát đồng bào ta không kể già trẻ, nam nữ. Những cảnh giết người hàng loạt, dã man diễn ra khắp nơi, không bút mực nào tả hết.

Hàng trăm gia đình phải sống cảnh “màn trời chiếu đất” vì bọn Pôn Pốt đốt phá nhà cửa. Thống kê sau cuộc chiến cho thấy, bọn Pôn Pốt đã tàn sát toàn tuyến biên giới của An Giang 4.158 người; làm bị thương 774 người; tàn phá 4.500 căn nhà; tàn phá trường học, bệnh xá, nhà thờ ở 14 xã; tàn phá ruộng vườn, hủy hoại hoa màu 22 xã; giết hơn 110 con trâu, bò và súc vật khác; tàn phá 4.000 ha đất, 36 đơn vị cấp xã. Đặc biệt, 8 xã bị hủy diệt hoàn toàn.

Nhà mồ Ba Chúc chỉ gìn giữ được 1.159 bộ hài cốt, là những gì còn sót lại của 3.157 người dân bị thảm sát, được sắp xếp theo độ tuổi, như: 86 phụ nữ trên 60 tuổi; 155 phụ nữ từ 21 đến 40 tuổi; 88 thiếu nữ từ 16 đến 20 tuổi; 264 trẻ em từ 3 đến 15 tuổi; 23 nam từ 16 đến 20 tuổi... Chứng tích căm thù nhà mồ Ba Chúc được xem là một bản cáo trạng về tội ác diệt chủng của Pôn Pốt, để lại cho muôn đời sau. Lần đầu tiên, tôi mới thấm thía sâu sắc vì sao tội ác diệt chủng ấy trở thành ám ảnh kinh hoàng cho bao người dân thế hệ trước. Đi đến tận nơi, nhìn tận mắt, nghe tận tai, tôi trưởng thành hơn rất nhiều!

Từ chuyến thăm nhà mồ, tôi nhiều lần đến gặp các nhân chứng lịch sử còn sống sót sau thảm sát. Trong đó, bà Võ Thị Ngọc Châu và ông Bùi Văn Lê (tên gọi thân mật là chú Ba Lê) là hai nhân chứng khiến tôi ấn tượng nhất. Chú Ba cung cấp cho tôi rất nhiều tư liệu quý giá về đợt thảm sát, về ngón nghề đờn ca tài tử, về cuộc đời, tình yêu của chú, về đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, và cả những phong tục tập quán của người đi trước. Có thể nói, chú Ba là một nhân vật rất đặc biệt trong quá trình làm báo non trẻ của tôi. Khi tôi chỉ mới cảm nhận sơ nét về vụ thảm sát bằng những tấm ảnh tư liệu, bằng những bộ hài cốt rạn nứt vì bị tra tấn, đập vỡ..., thì câu chuyện của vợ chồng chú lại là minh chứng rõ nét để tôi cảm nhận được, thế nào là tận cùng của đau thương, và “sự sống nảy sinh từ cái chết”. Họ kể cho tôi nghe cảnh tượng đau đớn, tâm sự uất nghẹn khi tận mắt nhìn hàng chục, hàng trăm người trong gia đình họ bị thảm sát; những ngày tháng “sống tạm” vật vờ với ám ảnh quá khứ; cách họ tìm gặp nhau và xoa dịu vết thương lòng cho nhau...

Họ không hề khóc khi kể lại chuyện cũ, bởi “mọi thứ đã trôi qua, hết nước mắt để khóc rồi” - như lời chú Ba. Và họ đã kể câu chuyện đời mình cho hàng trăm nhà báo, cơ quan chức năng để ghi vào sử sách, vào báo chí suốt 40 năm nay, nên tâm trạng bình lặng dần. Tôi may mắn đến thăm nhà họ nhiều lần, được họ đối đãi thâm tình như con cháu trong nhà, được thấy nụ cười hạnh phúc của họ khi nhắc đến nhau, đến những đứa trẻ họ đã có. Có lẽ vì thế, tôi thấm thía được rằng, hơn ai hết, họ trân trọng niềm hạnh phúc bình dị này, thương nhau thay cho người thân đã mất. Cảm xúc của họ lan tỏa sâu sắc đến tôi. Tôi làm nhiệm vụ chắt chiu, truyền tải vào bài viết của mình.

Sau nhiều năm, cảm xúc ấy vẫn vẹn nguyên như cũ. Tại Hội thảo khoa học cấp Quốc gia “40 năm ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (7/1/1979 - 7/1/2019) diễn ra tại An Giang, ngày 28/12/2018, tôi lại có dịp tiếp cận thông tin đầy đủ, nhiều chiều, chính thống hơn về cuộc chiến. Từ những thông tin ấy, tôi đã triển khai loạt bài 5 kỳ “40 năm ấy - biết bao nhiêu tình!”. Có những đoạn trong bài viết, nước mắt tôi rớt trên bàn phím. Đến câu chữ cũng chợt bất lực trước những gì đã diễn ra, bởi tôi chỉ là một nhà báo trẻ của thời bình, không đủ bút lực để thoát thai ý tứ cho một câu chuyện lịch sử lớn lao như thế.

Tôi có hơn 10 ngày để đọc đi, đọc lại những tư liệu lịch sử mình đang có, tham dự các hoạt động xung quanh Hội thảo, vừa thực hiện tin, bài cho kịp tính thời sự, vừa quay trở lại Ba Chúc để phỏng vấn, suy nghĩ chắp bút loạt bài hoàn thành ngay sau khi Hội thảo kết thúc. Nói rằng tôi thực hiện loạt bài trong hơn 10 ngày cũng đúng, chính xác hơn, tôi đã chắt chiu, ấp ủ đề tài trong suốt 10 năm, kể từ ngày mới vào nghề, từ lúc đến với Ba Chúc. Ba Chúc chưa bao giờ là đề tài cũ trong tôi và trong các đồng nghiệp.

Vết thương lòng của người dân dù có nguôi ngoai, nhưng vẫn ngự trị đâu đó trong họ. Trách nhiệm của người làm báo như chúng tôi là phải thường xuyên khẳng định lại tầm vóc, ý nghĩa và những bài học lịch sử sâu sắc từ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam; tiếp nối những giá trị lịch sử và những kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôi tự dặn mình rằng, những trang viết về đề tài này vẫn sẽ được bản thân tiếp tục thực hiện trong tương lai, với đầy đủ bút lực để thể hiện cuộc chiến ở những tầng nấc cao hơn, sâu sắc và lay động lòng người hơn nữa, như chính nó vốn có./.

Gia Khánh (Báo An Giang)

Bình luận